U hạt sinh mủ (Pyogenic granuloma)

Ngày đăng: 26/03/2025 bvdalieutrunguong

1. Đại cương  

U hạt sinh mủ là tình trạng tăng sinh lành tính, mắc phải của các mao mạch ở da và niêm mạc miệng. Tên gọi này là một cách gọi sai vì đây là một dạng u mạch máu, không phải do nhiễm trùng. U hạt sinh mủ còn được gọi là u hạt nhiễm khuẩn, u hạt thai nghén hoặc khối u thai kỳ khi xảy ra trong thai kỳ.

2. Ai có thể mắc u hạt sinh mủ ?

U hạt sinh mủ thường xảy ra ở trẻ em khoảng 6 tuổi và trong giai đoạn thanh thiếu niên. Nhìn chung nam giới chiếm ưu thế (3/2) ngoại trừ các tổn thương ở miệng do liên quan đến việc mang thai và sử dụng thuốc tránh thai đường uống. Chủng tộc nào cũng có nguy cơ mắc bệnh.

3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh là gì ?

Nhiều yếu tố có liên quan đến bệnh nhưng nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết đến. Cơ chế được đề xuất nhấn mạnh tầm quan trọng của các tổn thương dẫn đến mất cân bằng giữa các yếu tố hình thành mạch máu và chống hình thành mạch máu, dẫn đến sự tăng sinh nhanh chóng của các mao mạch có tính chất tân sinh, dễ vỡ và có dạng thuỳ. Mô hạt phản ứng từ các chấn thương có thể góp phần gây ra tình trạng này; tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ có 7% các tổn thương này là có tiền sử chấn thương. Các yếu tố khác bao gồm nhiễm trùng và dị dạng mạch máu từ trước.

Các yếu tố liên quan đến sự phát triển của u hạt sinh mủ có thể bao gồm:

  • Chấn thương - chấn thương nhỏ chiếm 7% các trường hợp; trong khoang miệng, chấn thương kích thích mãn tính nhẹ được cho là tác nhân phổ biến. Xỏ khuyên mũi được báo cáo có liên quan đến u hạt sinh mủ trong mũi.
  • Ảnh hưởng của hormone - có thể xảy ra khi sử dụng thuốc tránh thai đường uống và ở 5% trường hợp mang thai.
  • huốc - retinoid uống, thuốc ức chế protease (dùng trong điều trị HIV/AIDS), liệu pháp điều trị đích trong ung thư và ức chế miễn dịch.
  • Nhiễm trùng - Staphylococcus aureus thường có liên quan. Trong khoang miệng, vệ sinh răng miệng kém là một yếu tố nguy cơ. Không có bằng chứng về nguyên nhân do virus.

4. Các đặc điểm lâm sàng

U hạt sinh mủ ở da biểu hiện là một nốt đỏ không đau, thường có đường kính 5-10mm, phát triển nhanh trong vài tuần. Bề mặt ban đầu nhẵn nhưng có thể loét, đóng vảy hoặc sùi. U hạt sinh mủ thường đơn độc, nhưng có thể có nhiều nốt và tổn thương vệ tinh. Các vị trí thường gặp nhất là ngón tay và mặt. U hạt sinh mủ dễ chảy máu khi bị chấn thương nhẹ.

U hạt sinh mủ niêm mạc miệng thường phát triển trên môi và lợi dưới dạng các nốt, sẩn đỏ không đau có cuống hoặc không, phát triển chậm, có kích thước từ vài mm đến vài cm. Bề mặt có thể bị loét và dễ chảy máu. Theo thời gian, tổn thương chuyển sang màu hồng nhạt hơn. Các vị trí niêm mạc khác có thể bị ảnh hưởng bao gồm kết mạc và niêm mạc mũi.

Hình 1, 2. Hình ảnh tổn thương của u hạt sinh mủ (Nguồn: Internet)

Hình 1, 2. Hình ảnh tổn thương của u hạt sinh mủ (Nguồn: Internet)

5. Làm thế nào để chẩn đoán u hạt sinh mủ ?

    U hạt sinh mủ thường chẩn đoán bằng lâm sàng. Tuy nhiên, xét nghiệm mô bệnh học có thể chỉ định trong trường hợp không điển hình.

    Mô bệnh học của u hạt sinh mủ cho thấy sự sắp xếp mao mạch dạng thùy ở lớp trung bì. Lớp thượng bì bên trên có thể mỏng hoặc loét, và xung quanh ngoại vi bao bọc bởi các đường nối thượng bì và trung bì kéo dài và ống tuyến eccrine. Những thay đổi viêm và dấu hiệu xuất huyết là thứ phát.

    Trên hình ảnh dermoscopy, u hạt sinh mủ có viền sừng hóa rõ tạo thành một vòng màu trắng. Cấu trúc mạch máu thường tạo thành từng thùy màu đỏ đồng nhất ngăn cách bởi các dải màu trắng.

Hình ảnh trên dermoscopy (hình 1) và mô bệnh học (hình 2) của u hạt sinh mủ (Nguồn: Internet)

Hình ảnh trên dermoscopy (hình 1) và mô bệnh học (hình 2) của u hạt sinh mủ (Nguồn: Internet)

6. Chẩn đoán phân biệt

  • U hắc tố không sắc tố
  • Sarcoma Kaposi
  • Bệnh u mạch do trực khuẩn
  •  U máu anh đào

7. Phương pháp điều trị

Biện pháp chung

Điều trị hoặc loại bỏ các yếu tố kích hoạt là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ tái phát bao gồm:

  • Ngừng sử dụng thuốc nghi ngờ gây bệnh
  • Vệ sinh răng miệng sạch sẽ
  • Điều trị chấn thương khoang miệng do răng gây ra, tháo bỏ các lỗ xỏ khuyên

Điều trị tại chỗ

  • Kem Imiquimod 5%
  • Timolol gel 0,5% và các thuốc chẹn beta tại chỗ (hoặc uống) khác
  • Tiêm steroid nội tổn thương
  • Liệu pháp lạnh
  • Liệu pháp muối (salt therapy)

Điều trị thủ thuật

  • Nạo và đốt
  • Cắt bỏ bằng phẫu thuật
  • Laser mạch máu và laser phá hủy tổn thương

8. Tiên lượng

U hạt sinh mủ hiếm khi tự khỏi ngoại trừ trường hợp sau sinh đối với các tổn thương liên quan đến thai kỳ. Tái phát thường gặp, đặc biệt là đối với các tổn thương ở lợi khi điều trị không đầy đủ hoặc không giải quyết được yếu tố kích thích.

TÀI LIỆU THAM KHẢO                           

1.      Wollina U, Langner D, França K, Gianfaldoni S, Lotti T, Tchernev G. Pyogenic Granuloma - A Common Benign Vascular Tumor with Variable Clinical Presentation: New Findings and Treatment Options. Open Access Maced J Med Sci. 2017 Jul 25;5(4):423-426.

2.      Plachouri KM, Georgiou S. Therapeutic approaches to pyogenic granuloma: an updated review. Int J Dermatol. 2019;58(6):642–8. doi:10.1111/ijd.14268.

3.      Benedetto C, Crasto D, Ettefagh L, Nami N. Development of Periungual Pyogenic Granuloma with Associated Paronychia Following Isotretinoin Therapy: A Case Report and a Review of the Literature. J Clin Aesthet Dermatol. 2019 Apr;12(4):32-36.

Viết bài: BSNT. Nguyễn Mạnh Hùng

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus) là một bệnh da viêm lành tính, hiếm gặp. Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các sẩn nhỏ, màu hồng, đỏ hoặc màu da, liên kết lại với nhau tạo thành một dải hoặc một vệt dài. Tổn thương điển hình phân bố dọc theo các đường Blaschko, là những đường vô hình trên da được cho là đại diện cho sự di cư của tế bào trong quá trình phát triển phôi thai.

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng là một tình trạng lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ trẻ tuổi, trưởng thành, bao gồm các sẩn viêm nhỏ và mụn mủ hoặc dát màu hồng, có vảy quanh miệng. Mặc dù vùng quanh miệng là vùng phân bố phổ biến nhất, bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt và quanh mũi.

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi là khối u lành tính có nguồn gốc từ phần phụ ở da. U ống tuyến mồ hôi biểu hiện sự biệt hóa ống dẫn đặc biệt phát sinh từ các tế bào ống dẫn mồ hôi, thường là eccrine.

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker được coi là một loại bớt thượng bì lành tính, khởi phát muộn. Các đặc điểm liên quan như phát triển quanh tuổi dậy thì, nam giới chiếm ưu thế, chứng rậm lông và tổn thương dạng mụn trứng cá gợi ý vai trò của androgen.

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce, được gọi là apocrine miliaria, là một rối loạn viêm da mãn tính hiếm gặp ảnh hưởng đến các tuyến apocrine, biểu hiện bằng các tổn thương sẩn ở các vùng như nách và hậu môn sinh dục. Được mô tả vào năm 1902 bởi George Henry Fox và John Addison Fordyce.

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota là một tổn thương sắc tố lành tính chủ yếu liên quan đến vùng phân bố của dây thần kinh sinh ba. Các nhánh thứ nhất và thứ hai của dây thần kinh sinh ba, cụ thể là nhánh mắt V1 và nhánh hàm trên V2 thường bị ảnh hưởng nhất. Có thể có tình trạng tăng sắc tố ở mắt liên quan. Bớt Ota còn được gọi là bệnh hắc tố ở da và mắt. Bớt Ito rất giống với bớt Ota ngoại trừ sự khác biệt về vị trí phân bố. Nó liên quan đến vị trí phân bố của các dây thần kinh bì cánh tay bên của vai và các dây thần kinh thượng đòn sau. Cả hai bệnh này đều có chung sinh lý bệnh học.

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố (pigmented purpuric dermatoses - PPD) còn được gọi là viêm mao mạch (capillaritis), ban xuất huyết đơn giản (purpura simplex) hoặc ban xuất huyết viêm không có viêm mạch (inflammatory purpura without vasculitis). Đây là một nhóm các tổn thương da mạn tính, lành tính, đặc trưng bởi ban xuất huyết không sờ thấy và tăng sắc tố da, hay gặp ở chi dưới. Việc nhận biết các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của bệnh da xuất huyết tăng sắc tố rất quan trọng để phân biệt với viêm mạch thực sự ở da và các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự.

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

dalieu.vn dalieu.vn