LASER Nd YAG 1064NM TRONG ĐIỀU TRỊ NẤM MÓNG

Ngày đăng: 17/05/2019 Admin

Nấm móng là một bệnh phổ biến, chiếm khoảng 50% những rối loạn về móng. Những yếu tố nguy cơ của bệnh là đái tháo đường, bệnh động mạch ngoại vi, tình trạng suy giảm miễn dịch, chấn thương và những rối loạn kèm theo khác của móng. Nấm móng chủ yếu gây khó chịu, mất thẩm mỹ, đau khi bệnh nhân cắt hoặc vận động. Đôi khi nó có thể gây biến chứng viêm mô bào.

Bệnh thường khó kiểm soát do chẩn đoán khó, điều trị cần dùng thuốc kéo dài kèm theo các tác dụng phụ, hơn nữa lại hay tái phát.

Các phương pháp điều trị nấm móng bao gồm: thuốc uống, thuốc bôi, phẫu thuật, quang động học và laser. Tuy nhiên, không phương pháp nào mang lại hiệu quả tuyệt đối nên các nhà nghiên cứu vẫn tìm kiếm phương pháp điều trị mới. Ngoài ra, bệnh nhân cần áp dụng các biện pháp dự phòng như: tất cotton, vệ sinh giày tất, giữ chân khô, xoa bột chống nấm… để hạn chế tái phát.

1.Thuốc uống chống nấm

Một số loại thuốc uống hay sử dụng như: Fluconazole, Griseolulvin, Itraconazole, Terbinafine đều cần dùng lâu dài, hay gây tương tác thuốc và có một số tác dụng phụ như: đau đầu, triệu chứng dạ dày- ruột, tăng men gan..

Theo các nghiên cứu, hiệu quả điều trị đạt được khoảng 71-82% dựa trên kết quả soi tươi và 60-70% nếu dựa trên đáp ứng lâm sàng. Tỉ lệ tái phát là khoảng 22%.

Thuốc uống chống nấm được coi là phương pháp điều trị hiệu quả nhất, tuy nhiên nó hay gây tác dụng phụ toàn thân, có nhiều chống chỉ định.

2.Cơ chế laser Nd YAG trong điều trị nấm móng

Laser Nd YAG 1064nm đã được FDA công nhận là một trong những phương pháp để điều trị nấm móng.

Cơ chế: bước sóng 1064 nm thuộc vùng hồng ngoại gần, có khả năng đâm xuyên tốt và gây tác dụng nhiệt là chủ yếu. Nấm có thể bị tiêu diệt khi nhiệt độ vào khoảng trên 50 độ C. Tuy rằng với nhiệt độ trên 45 độ C có thể gây hoại tử mô lành và gây đau nhưng do sự dẫn nhiệt của mô da tốt hơn so với nấm (thành tế bào nấm nhiều kitin) nên có thể dùng laser với chế độ xung để đưa nhiệt độ mô lên cao đủ để diệt nấm mà mô xung quanh ít bị ảnh hưởng. Một số nấm còn tạo sắc tố trên móng, sẽ hấp thu năng lượng laser tốt hơn, làm tang hiệu quả điều trị

Chính vì vậy, laser Nd:YAG với chế độ Q-switched, xung ngắn, xung dài đều  có thể diệt được tế bào nấm ở bên dưới bản móng, kích thích miễn dịch.

3.Hiệu qủa điều trị nấm móng bằng laser Nd YAG xung dài

3.1 Điều trị nấm móng bằng laser Nd YAG xung dài

Theo nghiên cứu của Kozarev J năm 2011 trên 162 bệnh nhân với 413 móng bị nấm, sử dụng độ rộng xung 35ms, mật độ năng lượng 35-40J/cm2, kích thước chùm tia 4cm, bắn lặp lại 3 lần, 4 lần điều trị, mỗi tuần 1 lần, thu được tỉ lệ khỏi sau 3 tháng là 95,7%, sau 6 tháng là 98,8%.

Nghiên cứu của Zang năm 2012 trên 33 bệnh nhân với 154 móng bị nấm, sử dụng độ rộng xung 30ms, mật độ năng lượng 240-324J/cm2, kích thước chùm tia 3 mm, bắn lặp lại 2 lần, trong đó 78 móng điều trị 8 lần, 76 móng điều trị 4 lần, khoảng cách giữa các lần là 1 tuần, thu được tỉ lệ khỏi sau 16 tuần khoảng trên 50%.

Kết quả khác nhau giữa các nghiên cứu là do chọn thông số máy khác nhau như mật độ năng lượng, số lần bắn lặp lại  trên tổn thương (pass). Tuy nhiên có thể thấy điều trị nấm móng bằng laser Nd YAG xung dài khá hiệu quả, an toàn, không gây tác dụng phụ toàn thân, thời gian điều trị ngắn, không cần chăm sóc sau điều trị.

Hình 1. Hiệu quả điều trị nấm móng bằng laser Nd YAG xung dài

3.2. Điều trị kết hợp laser Nd YAG xung dài và thuốc uống chống nấm

  • Nghiên cứu năm 2016 trên 53 bệnh nhân với 90 móng bị nấm, chia làm 3 nhóm. Nhóm T chỉ sử dụng terbinafine uống 250mg/ngày, nhóm L chỉ sử dụng laser, nhóm T+L sử dụng kết hợp thuốc uống và laser. Kết quả được theo dõi trên lâm sàng và xét nghiệm soi tươi tìm nấm đều cho thấy nhóm T + L có hiệu quả cao nhất. Sau 24 tuần theo dõi, nhóm kết hợp uống terbinafine và sử dụng laser khỏi 100% dựa trên xét nghiệm soi tươi và 96,55% dựa trên đánh giá lâm sàng.
  • Nghiên cứu năm 2016 tại Trung Quốc trên 84 móng bị nấm, chia thành 2 nhóm. Nhóm A bao gồm 42 móng có tổn thương nhẹ, trung bình. Trong đó 21 móng được điều trị bằng uống Itraconazole, 21 móng còn lại được điều trị bằng uống Itraconazole và laser.

Nhóm B bao gồm 42 móng có tổn thương nặng, 21 móng cũng được điều trị bằng thuốc uống, 21 móng điều trị bằng thuốc uống và laser.

Tác giả theo dõi sau 24 tuần và thấy rằng với bệnh nhân nấm móng nặng nên kết hợp thuốc uống chống nấm và laser để đạt được hiệu quả cao nhất.

3.3. Điều trị kết hợp laser Nd YAG xung dài và thuốc bôi chống nấm

Nghiên cứu năm 2016 trên 217 móng nhiễm nấm của 56 bệnh nhân, chia làm 3 nhóm. Nhóm L chỉ dùng laser, nhóm T chỉ dùng thuốc bôi chống nấm, nhóm L + T điều trị kết hợp thuốc bôi và laser. Sau 24 tuần theo dõi, tác giả thấy rằng nhóm kết hợp có hiệu quả cao nhất và vai trò của thuốc bôi chống nấm chủ yếu là ngăn ngừa việc tái nhiễm nấm.

Hình 2. Hiệu quả điều trị của nhóm L, L + T và nhóm T

Qua các nghiên cứu, có thể thấy rằng laser Nd YAG 1064 nm xung dài có hiệu quả tốt khi điều trị nấm móng, đã được công nhận. Phương pháp này không gây tác dụng phụ toàn thân và rút ngắn thời gian điều trị. Ngoài ra khi kết hợp với thuốc uống hoặc thuốc bôi chống nấm, bệnh nhân sẽ đạt được hiệu quả cao hơn, hạn chế khả năng tái phát.

Hiện nay, máy laser YAG xung dài đã có tại khoa Laser và săn sóc da bệnh viện Da liễu Trung Ương để phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả điều trị cho các bệnh nhân nấm móng.

 Tài liệu tham khảo

  1. Piccolo D., Kostaki D., Del Duca E., et al. (2017). Long-Pulsed 1064-nm Nd:YAG Laser for the Treatment of Onychomycosis. Photomed Laser Surg, 35(4), 213–216.
  2. Hees H., Jäger M.W., and Raulin C. (2014). Treatment of onychomycosis using the 1 064 nm Nd:YAG laser: a clinical pilot study. J Dtsch Dermatol Ges, 12(4), 322–329.
  3. Xu Y., Miao X., Zhou B., et al. (2014). Combined oral terbinafine and long-pulsed 1,064-nm Nd: YAG laser treatment is more effective for onychomycosis than either treatment alone. Dermatol Surg, 40(11), 1201–1207.
  4. Liddell L.T. and Rosen T. (2015). Laser Therapy for Onychomycosis: Fact or Fiction?. J Fungi (Basel), 1(1), 44–54.
  5. Bristow I.R. (2014). The effectiveness of lasers in the treatment of onychomycosis: a systematic review. J Foot Ankle Res, 7, 34.

Bài viết: BSNT Trịnh Thị Linh

Đăng bài: Phòng CTXH

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus) là một bệnh da viêm lành tính, hiếm gặp. Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các sẩn nhỏ, màu hồng, đỏ hoặc màu da, liên kết lại với nhau tạo thành một dải hoặc một vệt dài. Tổn thương điển hình phân bố dọc theo các đường Blaschko, là những đường vô hình trên da được cho là đại diện cho sự di cư của tế bào trong quá trình phát triển phôi thai.

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng là một tình trạng lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ trẻ tuổi, trưởng thành, bao gồm các sẩn viêm nhỏ và mụn mủ hoặc dát màu hồng, có vảy quanh miệng. Mặc dù vùng quanh miệng là vùng phân bố phổ biến nhất, bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt và quanh mũi.

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi là khối u lành tính có nguồn gốc từ phần phụ ở da. U ống tuyến mồ hôi biểu hiện sự biệt hóa ống dẫn đặc biệt phát sinh từ các tế bào ống dẫn mồ hôi, thường là eccrine.

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker được coi là một loại bớt thượng bì lành tính, khởi phát muộn. Các đặc điểm liên quan như phát triển quanh tuổi dậy thì, nam giới chiếm ưu thế, chứng rậm lông và tổn thương dạng mụn trứng cá gợi ý vai trò của androgen.

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce, được gọi là apocrine miliaria, là một rối loạn viêm da mãn tính hiếm gặp ảnh hưởng đến các tuyến apocrine, biểu hiện bằng các tổn thương sẩn ở các vùng như nách và hậu môn sinh dục. Được mô tả vào năm 1902 bởi George Henry Fox và John Addison Fordyce.

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota là một tổn thương sắc tố lành tính chủ yếu liên quan đến vùng phân bố của dây thần kinh sinh ba. Các nhánh thứ nhất và thứ hai của dây thần kinh sinh ba, cụ thể là nhánh mắt V1 và nhánh hàm trên V2 thường bị ảnh hưởng nhất. Có thể có tình trạng tăng sắc tố ở mắt liên quan. Bớt Ota còn được gọi là bệnh hắc tố ở da và mắt. Bớt Ito rất giống với bớt Ota ngoại trừ sự khác biệt về vị trí phân bố. Nó liên quan đến vị trí phân bố của các dây thần kinh bì cánh tay bên của vai và các dây thần kinh thượng đòn sau. Cả hai bệnh này đều có chung sinh lý bệnh học.

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố (pigmented purpuric dermatoses - PPD) còn được gọi là viêm mao mạch (capillaritis), ban xuất huyết đơn giản (purpura simplex) hoặc ban xuất huyết viêm không có viêm mạch (inflammatory purpura without vasculitis). Đây là một nhóm các tổn thương da mạn tính, lành tính, đặc trưng bởi ban xuất huyết không sờ thấy và tăng sắc tố da, hay gặp ở chi dưới. Việc nhận biết các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của bệnh da xuất huyết tăng sắc tố rất quan trọng để phân biệt với viêm mạch thực sự ở da và các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự.

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

dalieu.vn dalieu.vn