Rosacea - Rhinophyma

Ngày đăng: 09/02/2015 Admin

Trong khi rosacea là từ dùng để chỉ tình trạng ửng đỏ, và bừng đỏ  của da. Có 4 thể lâm sàng của Rosacea. Mỗi thể lâm sàng có biểu hiện lâm sàng khác nhau.

Thể 1: Rosacea giãn mạch.

Đặc trưng bởi bừng đỏ, ban đỏ cố định vùng mặt trung tâm. Giãn mạch thường gặp, nhưng không phải là triệu chứng cần thiết cho chẩn đoán bệnh.

Thể 2: Rosacea sẩn, mụn mủ.

Đặc trưng bởi ban đỏ cố định vùng mặt trung tâm. Kèm theo có các sẩn xuất hiện thoáng qua, mụn mủ hoặc cả hai ở vị trí trung tâm của mặt. Cảm giác dát bỏng, nhức như kim châm có thể gặp.

Thể 3: Rosacea phì đại (phymatous rosacea).

Đặc trưng là da dày, nhiều nốt trên bề mặt da, kích thước không đều, tạo thành các mảng lớn. Thể Rosacea phì đại thường hay gặp nhất như dạng mũi phì đại nhưng có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trị nào ở mặt như cằm, trán, gò má, và tai. Nang lông trở nên rộng ra rõ rệt ở vùng da phì đại và giãn mạch có thể gặp.

Thể 4: Rosacea mắt.

Đặc trưng tổn thương ở mắt với biểu hiện mặt đỏ ngầu hoặc luôn ướt (sung huyết kết mạc), càm giác vật lạ trong mắt, dát bỏng hoặc nhức như kim châm, khô mắt, ngứa, nhạy cảm ánh sáng, giảm thị lực, giản mạch ở vùng kết mạc và bờ mi mắt, hoặc dát đỏ vùng bờ mi hoặc quanh mắt. Viêm kết mạc, viêm bờ mi, và xuất hiện bờ mi mắt không đều.

Rosacea phì đại đặc trưng bởi các lỗ chân lông giãn to, da dày, bề mặt da trở nên không đều, hoặc dạng nhiều múi, tạo thành nhiều rãnh, nổi cao và lõm xuống. Mức độ của thể Rosacea phì đại cũng có thể nhẹ, trung bình hoặc nặng. Rosacea phì đại thường gặp ở vùng mũi (rhinophyma), nhưng có thể xuất hiện ở cằm (gnathophyma), trán (metophyma), mí mắt (plepharophyma) và tai (otophyma). Ở phụ nữ, rosacea thường không xuất hiển thể phì đại, và được giải thích chủ yếu do yếu tố hormon, nhưng có thể xuất hiện đặc trưng tăng tiết bã nhờn, tăng kích thước tuyến với biểu hiện của lỗ chân lông giãn rộng.

 Giải phẫu bệnh: Rosacea phì đại với đặc trưng tăng sợi chun, tăng xơ, thâm nhiễm các tế bào ở trung bì, quá sản tuyến bã, phì đại các ống tuyến bã.

Điều trị: Các phương pháp điều trị đều gặp khó khăn ở thể lâm sàng này:

– Vitamin A acid thường kéo dài nhiều tháng.

– Bào da bằng Laser CO2 có kết quả tốt, đặc biệt thể khu trú ở mũi.


Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus) là một bệnh da viêm lành tính, hiếm gặp. Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các sẩn nhỏ, màu hồng, đỏ hoặc màu da, liên kết lại với nhau tạo thành một dải hoặc một vệt dài. Tổn thương điển hình phân bố dọc theo các đường Blaschko, là những đường vô hình trên da được cho là đại diện cho sự di cư của tế bào trong quá trình phát triển phôi thai.

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng là một tình trạng lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ trẻ tuổi, trưởng thành, bao gồm các sẩn viêm nhỏ và mụn mủ hoặc dát màu hồng, có vảy quanh miệng. Mặc dù vùng quanh miệng là vùng phân bố phổ biến nhất, bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt và quanh mũi.

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi là khối u lành tính có nguồn gốc từ phần phụ ở da. U ống tuyến mồ hôi biểu hiện sự biệt hóa ống dẫn đặc biệt phát sinh từ các tế bào ống dẫn mồ hôi, thường là eccrine.

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker được coi là một loại bớt thượng bì lành tính, khởi phát muộn. Các đặc điểm liên quan như phát triển quanh tuổi dậy thì, nam giới chiếm ưu thế, chứng rậm lông và tổn thương dạng mụn trứng cá gợi ý vai trò của androgen.

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce, được gọi là apocrine miliaria, là một rối loạn viêm da mãn tính hiếm gặp ảnh hưởng đến các tuyến apocrine, biểu hiện bằng các tổn thương sẩn ở các vùng như nách và hậu môn sinh dục. Được mô tả vào năm 1902 bởi George Henry Fox và John Addison Fordyce.

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota là một tổn thương sắc tố lành tính chủ yếu liên quan đến vùng phân bố của dây thần kinh sinh ba. Các nhánh thứ nhất và thứ hai của dây thần kinh sinh ba, cụ thể là nhánh mắt V1 và nhánh hàm trên V2 thường bị ảnh hưởng nhất. Có thể có tình trạng tăng sắc tố ở mắt liên quan. Bớt Ota còn được gọi là bệnh hắc tố ở da và mắt. Bớt Ito rất giống với bớt Ota ngoại trừ sự khác biệt về vị trí phân bố. Nó liên quan đến vị trí phân bố của các dây thần kinh bì cánh tay bên của vai và các dây thần kinh thượng đòn sau. Cả hai bệnh này đều có chung sinh lý bệnh học.

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố (pigmented purpuric dermatoses - PPD) còn được gọi là viêm mao mạch (capillaritis), ban xuất huyết đơn giản (purpura simplex) hoặc ban xuất huyết viêm không có viêm mạch (inflammatory purpura without vasculitis). Đây là một nhóm các tổn thương da mạn tính, lành tính, đặc trưng bởi ban xuất huyết không sờ thấy và tăng sắc tố da, hay gặp ở chi dưới. Việc nhận biết các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của bệnh da xuất huyết tăng sắc tố rất quan trọng để phân biệt với viêm mạch thực sự ở da và các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự.

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

dalieu.vn dalieu.vn