Dày sừng da dầu (Seborrheic keratosis)

Ngày đăng: 10/03/2026 bvdalieutrunguong

1. Tổng quan

Dày sừng da dầu là khối u da lành tính phổ biến nhất. Những người trên 50 tuổi thường bị dày sừng da dầu, tình trạng này trở nên rõ rệt hơn khi già đi. Mặc dù dày sừng da dầu phổ biến hơn ở người trung niên và cao tuổi nhưng cũng có thể xuất hiện ở người trẻ tuổi. Không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ. Tuy nhiên, dày sừng da dầu thường xuất hiện ở những người có type da sáng màu. 

Dày sừng da dầu là tình trạng tăng sinh lành tính của các tế bào sừng thượng bì. Người ta thấy rằng có yếu tố di truyền trong sự phát triển của một số lượng lớn dày sừng da dầu, tuy nhiên, cơ chế di truyền chính xác vẫn chưa được biết rõ. Cơ chế bệnh sinh chính xác của tình trạng da này hiện vẫn chưa được biết rõ, nhưng có thể có mối liên quan với nhiều bất thường sau: 

  • Đột biến kích hoạt thụ thể tyrosine kinase được gọi là thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-3 (FGFR3) là phổ biến.                    
  • Đột biến kích hoạt soma ở các vùng thúc đẩy TERT và DHPH3, nhưng với tần suất thấp hơn.
  • Tiếp xúc với bức xạ UV làm tăng biểu hiện protein tiền chất amyloid (APP) trên da và biểu hiện này cũng tăng theo tuổi tác.
  • Ngoài ra có thể thấy các đột biến gây ung thư trong con đường truyền tín hiệu thụ thể tyrosine kinase/phosphatidylinositol 3-kinase/Akt hoặc FoxN1.

2. Đặc điểm lâm sàng  

Về mặt lâm sàng, dày sừng da dầu có dạng dát, sẩn đỉnh phẳng, hoặc sẩn có dày sừng bề mặt. Màu sắc của các tổn thương này có thể thay đổi từ nâu nhạt đến nâu sẫm, vàng và xám, và chúng có thể đơn độc hoặc hàng chục, thậm chí hàng trăm tổn thương. Những khối u này thường xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, ngoại trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân và niêm mạc. Dày sừng da dầu thường tập trung ở mặt, da đầu, thân mình, các nếp gấp dưới vú, cánh tay và chân. Ở các nếp gấp da có thể có cuống. Lưng có thể có hình dạng "cây thông Noel" do các tổn thương phân bố dọc theo đường Blaschko.

Dày sừng da dầu thường không có triệu chứng cơ năng. Tuy nhiên, ngứa và/hoặc đau nhẹ có thể liên quan đến các tổn thương bị viêm hoặc kích ứng, đặc biệt là các tổn thương nằm ở các nếp gấp hoặc bị kích ứng do ma sát với quần áo.

Nhìn chung, dày sừng da dầu là lành tính và các tổn thương phát triển chậm; tuy nhiên, cần lưu ý nếu có sự phát triển đột ngột hoặc xuất hiện nhiều tổn thương. Dấu hiệu Leser-Trelat là sự xuất hiện đột ngột của dày sừng da dầu, gợi ý đến bệnh ác tính nội tạng thường liên quan đến ung thư biểu mô đường tiêu hóa hoặc phổi. 

Hình ảnh dày sừng da dầu (Nguồn: Internet)

Hình ảnh dày sừng da dầu (Nguồn: Internet)

3. Chẩn đoán

Chẩn đoán dày sừng da dầu bằng lâm sàng.  

Chụp dermoscopy có thể hỗ trợ chẩn đoán dày sừng da dầu Các hình ảnh có thể gặp bao gồm các lỗ mở giống như mụn đầu đen, nang giống như milia, thùy và rãnh, và mạch máu kẹp tóc, sắc tố dạng mạng lưới hoặc đám hình tròn.

Sinh thiết tổn thương thường không cần thiết để chẩn đoán dày sừng da dầu. Nếu không chắc chắn về chẩn đoán hoặc nghi ngờ ác tính, chẳng hạn như tổn thương loét, thay đổi kích thước nhanh chóng hoặc tổn thương rất lớn nên sinh thiết da để xác nhận. Mô bệnh học có thể gặp hình ảnh tăng sinh lớp tế bào gai, các tế bào dạng đáy, tăng sắc tố lớp đáy, giả nang sừng bên trong chứa nhiều chất keratin, dày sừng.

Chẩn đoán phân biệt: melanoma, dày sừng ánh sáng, ung thư biểu mô tế bào đáy thể tăng sắc tố hoặc ung thư biểu mô tế bào vảy, nốt ruồi thượng bì, bệnh gai đen, mụn cóc do virus.

4. Điều trị

Dày sừng da dầu là lành tính và thường không cần điều trị. Thông thường, việc loại bỏ dày sừng da dầu là vì lý do thẩm mỹ hoặc các tổn thương liên tục bị kích ứng và gây khó chịu cho bệnh nhân. Các tổn thương nghi ngờ, chảy máu, phát triển nhanh hoặc thay đổi có nguy cơ ác tính cao hơn và nên được sinh thiết hoặc loại bỏ. Việc lựa chọn liệu pháp nên được cá nhân hóa cho từng bệnh nhân.

Các yếu tố cần cân nhắc bao gồm kích thước và độ dày của tổn thương, típ da của bệnh nhân, nghi ngờ ác tính trên lâm sàng và kinh nghiệm lâm sàng của bác sĩ.

Các phương pháp điều trị phá hủy tại chỗ:                                                                    

  • Liệu pháp lạnh bằng Nitrogen lỏng
  • Đốt điện và nạo
  • Liệu pháp laser
  • Sinh thiết cạo

Các tác nhân tại chỗ: tazarotene, kem imiquimod, axit alpha-hydroxy và thuốc mỡ urê cũng như các chất tương tự vitamin D (tacalcitol, calcipotriol) đã được sử dụng để điều trị các tổn thương này. Các tác nhân bôi ngoài da khác bao gồm gel diclofenac, kali dobesilat, dung dịch hydrogen peroxide, hỗn hợp nitric-kẽm dạng nước.

5. Tiên lượng

Dày sừng da dầu là tổn thương lành tính và có tiên lượng tốt. Lý do chính để điều trị dày sừng da dầu là thẩm mỹ. Leser-Trelat là dấu hiệu của một khối u ác tính bên trong, có liên quan đến tiên lượng xấu hơn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Barthelmann S, Butsch F, Lang BM, Stege H, Großmann B, Schepler H, Grabbe S. Seborrheic keratosis. J Dtsch Dermatol Ges. 2023 Mar;21(3):265-277.

2. Sun MD, Halpern AC. Advances in the Etiology, Detection, and Clinical Management of Seborrheic Keratoses. Dermatology. 2022;238(2):205-217.

3. Huang J, Zhang L, Shi L, Wu M, Lv T, Zhang Y, Lai Y, Tu Q, Wang X, Wang H. An epidemiological study on skin tumors of the elderly in a community in Shanghai, China. Sci Rep. 2023 Mar 17;13(1):4441.

4. Goldsmith JF, Montaser Kouhsari L, Tahan SR. Clonal-pattern Seborrheic Keratosis: Risk of Recurrence and Progression to Carcinoma. Am J Surg Pathol. 2022 Dec 01;46(12):1642-1649.

5. Wollina U. Recent advances in managing and understanding seborrheic keratosis. F1000Res. 2019;8

Viết bài: BSNT. Nguyễn Mạnh Hùng

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn