Quá sản tuyến bã  (Sebaceous hyperplasia)

Ngày đăng: 10/03/2026 bvdalieutrunguong

1. Tổng quan

Quá sản tuyến bã (SGH) là tình trạng lành tính và phổ biến của tuyến bã. Quá sản tuyến bã ảnh hưởng đến người lớn tuổi trung niên trở lên, chủ yếu là nam giới. Theo báo cáo, tình trạng này xảy ra ở khoảng 1% dân số khỏe mạnh. Quá sản tuyến bã không có thể gặp ở trẻ sơ sinh, tình trạng này chỉ thoáng qua và là kết quả của việc tiếp xúc với hormone của mẹ.

Tình trạng này đã được mô tả ở những bệnh nhân đang điều trị ức chế miễn dịch mãn tính: các báo cáo về tỷ lệ mắc quá sản tuyến bã cao tới 10-16% ở những bệnh nhân được điều trị dài hạn bằng cyclosporine A. Tình trạng này cũng có liên quan đến các hội chứng di truyền, trong một số trường hợp hiếm gặp là hội chứng Muir-Torre. Tăng sản tuyến bã nhờn đã được ghi nhận là tác dụng phụ của liệu pháp kháng vi-rút HIV.

Cơ chế bệnh sinh của quá sản tuyến bã liên quan đến sự thay đổi môi trường nội tiết tố đi kèm với tuổi tác. Tuyến bã rất nhạy cảm với androgen lưu hành và có các enzyme chuyển đổi androgen đặc hiệu.  Nồng độ androgen giảm dẫn đến giảm sự thay đổi tế bào tuyến bã, làm kích thích sự tăng sinh tế bào bã nhờn bên trong tuyến và quá sản tuyến bã. Tác động này rõ rệt nhất trên khuôn mặt. Ảnh hưởng của insulin, TSH và hydrocortisone cũng làm tăng sự tăng sinh tế bào tuyến bã.  

Mặc dù quá sản tuyến bã phổ biến ở người lớn tuổi, các trường hợp quá sản tuyến bã lan tỏa có tính chất gia đình trước tuổi già (PDFSH) đã được báo cáo trong tài liệu. Dạng quá sản tuyến bã này có liên quan đến khuynh hướng di truyền, có độ tuổi khởi phát sớm hơn và không liên quan đến các vùng quanh hốc tự nhiên.

2. Đặc điểm lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng điển hình của quá sản tuyến bã là một sẩn đơn độc hoặc nhiều sẩn màu da hoặc vàng nhạt khu trú trên mặt (trán, má, cằm) hoặc ở thân trên. Các tổn thương lâm sàng có lõm  trung tâm tương ứng với lỗ thông nang lông. Các tổn thương này mềm và có kích thước từ 2 đến 9 mm.

Tổn thương quá sản tuyến bã có thể đơn độc hoặc nhiều, chủ yếu xuất hiện ở mặt hoặc ít gặp hơn ở các vùng khác trên cơ thể dưới dạng các sẩn mềm màu vàng. Khi khám thực thể, các sẩn cho thấy hình lõm ở trung tâm và các mạch máu phân nhánh, đặc biệt nếu kiểm tra bằng dermoscopy. Có thể cần sinh thiết để loại trừ ung thư biểu mô tế bào đáy. Tuy nhiên, các sẩn quá sản tuyến bã thường có nhiều sẩn màu vàng và có thể quan sát được dưới dạng các tiểu thùy nhỏ dưới dermoscopy. Các biến thể hiếm gặp của quá sản tuyến bã bao gồm dạng dải, dạng giống zona, dạng lan tỏa, dạng khổng lồ, dạng bớt.

Hình ảnh quá sản tuyến bã ở trán (Nguồn: Internet)

Hình ảnh quá sản tuyến bã ở trán (Nguồn: Internet)

3. Chẩn đoán

Không cần xét nghiệm cận lâm sàng. Quá sản tuyến bã được chẩn đoán dựa trên khám lâm sàng hoặc hỗ trợ bởi dermoscopy. Trên dermoscopy, quá sản tuyến bã bao gồm các nốt màu trắng vàng tập trung tương ứng với các tuyến bã quá sản. Lỗ tuyến đôi khi có thể nhìn thấy như một hố nhỏ ở trung tâm của các nốt màu vàng đó. Bao quanh các nốt, có thể quan sát được mô hình mạch máu; phổ biến và đặc hiệu nhất là "mạch máu hình vương miện".

Sinh thiết có thể cần thiết trong chẩn đoán phân biệt với ung thư biểu mô tế bào đáy. Xét nghiệm mô bệnh học các tổn thương tăng sản bã nhờn cho thấy các tuyến phì đại lành tính với hình thái bình thường. Bên trong mỗi tuyến, các tiểu thùy bã nhờn trưởng thành kết nối với một ống dẫn chính giãn nở.      

Chẩn đoán phân biệt: u tuyến bã, bớt tuyến bã, ung thư biểu mô tế bào đáy.

4. Điều trị

Những tổn thương này lành tính nhưng có thể gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

Các phương pháp điều trị chính là axit trichloroacetic (điều trị tại chỗ) và isotretinoin (toàn thân). Các phương pháp điều trị vật lý là liệu pháp lạnh, đốt điện, liệu pháp quang động và laser, cắt bỏ, cạo và nạo. Liệu pháp lạnh, đốt điện, nạo, cắt bỏ và axit trichloroacetic tại chỗ có thể thay đổi màu da và sẹo nên kết quả thẩm mỹ có thể không đạt yêu cầu. Liệu pháp quang động học sử dụng bước sóng 1720 nm được cho là đặc hiệu cho đơn vị tuyến bã nhờn; nó gây tổn thương tối thiểu cho các mô xung quanh nhưng yêu cầu nhiều buổi và thiết bị đặc biệt. Các loại laser thích hợp nhất được sử dụng để điều trị quá sản tuyến bã là Argon và carbon dioxide (CO2). Isotretinoin uống có hiệu quả, nhưng phải điều trị trong vài tháng và có tỷ lệ tái phát cao khi ngừng thuốc. Không sử dụng trong thời kỳ mang thai.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ataş H, Gönül M. Evaluation of the Efficacy of Cryosurgery in Patients With Sebaceous Hyperplasia of the Face. J Cutan Med Surg. 2017 May/Jun;21(3):202-206.

2. Iacobelli J, Harvey NT, Wood BA. Sebaceous lesions of the skin. Pathology. 2017 Dec;49(7):688-697.

3. Jakobiec FA, Cortes Barrantes P, Milman T, Lee NG, Fay A. Ocular Adnexal Adenomatoid Sebaceous Gland Hyperplasia: A Clinical and Immunopathologic Analysis in Relation to the Muir-Torre Syndrome. Ophthalmic Plast Reconstr Surg. 2020 Jan/Feb;36(1):e6-e12.

4. Mandal RK, Das A, Chakrabarti I, Agarwal P. Nevoid sebaceous hyperplasia mistaken as nevus sebaceous: Report of four cases. Indian J Dermatol Venereol Leprol. 2017 Mar-Apr;83(2):213-216.

5. Zaballos P, Gómez-Martín I, Martin JM, Bañuls J. Dermoscopy of Adnexal Tumors. Dermatol Clin. 2018 Oct;36(4):397-412.

6. Simmons BJ, Griffith RD, Falto-Aizpurua LA, Bray FN, Nouri K., International League of Dermatological Societies. European Dermatology Forum. Light and laser therapies for the treatment of sebaceous gland hyperplasia a review of the literature. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2015 Nov;29(11):2080-7.  

Viết bài: BSNT. Nguyễn Mạnh Hùng

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn