Kén thượng bì (Epidermoid cyst)

Ngày đăng: 06/06/2025 bvdalieutrunguong

1. Kén thượng bì là gì?

Kén thượng bì (Epidermoid cyst) là một tổn thương lành tính nằm dưới thượng bì chứa đầy chất keratin và các mảnh vụn giàu lipid được bao bọc trong một lớp biểu mô mỏng giống thượng bì. Mặc dù thường xuất hiện ở mặt, cổ và thân, kén thượng bì có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào bao gồm bìu, bộ phận sinh dục, ngón tay và các trường hợp trong niêm mạc má.

Kén có thể tiến triển chậm và tồn tại trong nhiều năm. Thuật ngữ “kén tuyến bã” (sebaceous cyst) thường được sử dụng; tuy nhiên, thuật ngữ này là một cách gọi sai vì nó không liên quan đến tuyến bã. Kén thượng bì phát triển bên trong phễu nang lông. Mặc dù các kén này được coi là tổn thương lành tính, nhưng hiếm gặp vẫn có thể phát sinh ác tính.

Những thuật ngữ tiếng anh thường dùng chỉ cùng tổn thương kén thượng bì là:

- Epidermal cyst

- Epidermal inclusion cyst

- Epithelial cyst

- Follicular infundibular cyst

- Infundibular cyst

- Keratin cyst

2. Nguyên nhân kén thượng bì là gì?

Kén thượng bì có nguồn gốc từ phễu nang lông. Nhìn chung, các kén này là kết quả của tình trạng tắc nghẽn lỗ nang lông. Kén thông với bề mặt da thông qua một lỗ chứa đầy keratin. Sự gián đoạn của nang lông đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh bệnh vì những người bị mụn trứng cá thông thường có thể có nhiều kén thượng bì xuất phát ban đầu từ mụn đầu đen.

Ngoài ra, tổn thương cũng có xuất hiện sau chấn thương dẫn đến cấy ghép thượng bì xuống bên dưới. Kén thượng bì được lót bằng biểu mô vảy tầng dẫn đến tích tụ keratin trong lớp dưới thượng bì hoặc trung bì. Nhìn chung, các kén không có triệu chứng cho đến khi chúng vỡ. Khi các kén vỡ, phản ứng viêm xảy ra do sự dịch chuyển của keratin mềm và màu vàng vào lớp trung bì và mô xung quanh. Gần đây, tia cực tím (UV) và nhiễm HPV cũng được xác định là nguyên nhân gây ra kén thượng bì.

3. Những ai hay bị kén thượng bì?

Kén thượng bì  là loại tổn thương dạng nang ở da phổ biến nhất và thường xuất hiện ở thập kỷ thứ 3và thứ 4 của cuộc đời. Rất hiếm khi tìm thấy những nang này trước tuổi dậy thì. Tỷ lệ gặp ở nam giới so với nữ giới là 2:1. Ở bệnh nhân cao tuổi, kén thượng bì có thể là kết quả của tổn thương mãn tính do ánh nắng mặt trời.

Kén thượng bì xuất hiện trước tuổi dậy thì ở những vị trí và số lượng bất thường cần nghĩ tới một hội chứng. Có thể thường gặp ở bệnh to đầu chi hoặc trong hội chứng Favre-Racouchot (thoái hoái sợi đàn hồi dạng nốt cùng với nhiều kén thượng bì và mụn đầu đen).

Bệnh nhân dùng thuốc ức chế BRAF có thể phát triển kén thượng bì ở mặt. Gần đây, imiquimod và cyclosporine được ghi nhận là nguyên nhân gây ra kén thượng bì.

Các rối loạn di truyền có thể làm tăng nguy cơ phát triển nhiều kén thượng bì bao gồm:

- Hội chứng Gardner (bệnh đa polyp tuyến gia đình).

- Pachyonychia congenita type 2 (dày móng bẩm sinh)

-  Hội chứng Gorlin (hội chứng đa ung thư tế bào đáy)

Khoảng < 1% nang biểu bì được ghi nhận là có sự chuyển đổi ác tính thành ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) và ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC).

 4. Biểu hiện lâm sàng của kén thương bì?

Các đặc điểm lâm sàng của u nang biểu bì bao gồm:

- Một sẩn hoặc nốt tròn màu da hoặc vàng, chắc, cố định trên bề mặt da nhưng thường di động ở các lớp sâu hơn.

- Đường kính 1–3 cm.

- Một nhân mụn sẫm màu ở điểm trung tâm (punctum)

- Có thể thấy các mảnh vụn như phô mai màu vàng có mùi hôi thối từ điểm trung tâm.

- Kén thượng bì thường gặp nhất ở thân giữa (ngực và vai) và mặt nhưng có thể xuất hiện ở hầu hết mọi nơi trên cơ thể. Kén thượng bì cũng thường gặp ở bìu và âm hộ, có thể đơn độc hoặc nhiều.

- Kén thượng bì thường không có triệu chứng, tuy nhiên, nếu vỡ, nó có thể rất giống với nhọt, cảm giác đau khi sờ, đỏ và sưng.

- Khai thác tiền sử bệnh tốt có thể giúp xác định xem kén thượng bì trong trường hợp đơn lẻ, do thuốc gây ra hay là một phần của hội chứng di truyền…

Hình 1: Kén thượng bì (nguồn: internet)

Hình 1: Kén thượng bì (nguồn: internet)

Hình 2: Kén thượng bì viêm biểu hiện như áp xe (nguồn: internet)

Hình 2: Kén thượng bì viêm biểu hiện như áp xe (nguồn: internet)

5. Chẩn đoán phân biệt đối với kén bì là gì?

- U mỡ: một khối u dưới da hình vòm hoặc hình trứng di động có kích thước 2–10 cm với mật độ chắc hoặc mềm.

- Nang Trichilemmal: một nốt sần dưới da chắc, di động, kích thước 0,5–5 cm không có điểm trung tâm, thường xuất hiện trên da đầu; u nang này có một lớp vỏ dày và thường không dễ vỡ.

- Nang giả trứng cá (Acne pseudocyst): loại nang này không có lớp vỏ và liên quan đến các dấu hiệu khác của mụn trứng cá (mụn đầu đen, sẩn viêm, mụn mủ, nốt).

- Giả nang nhày (Myxoid pseudocyst): một nốt sần bóng xuất hiện ở mu tay và đầu ngón.

-  Nang bì (Dermoid cyst): u nang bẩm sinh, chứa biểu mô da và các cấu trúc phụ da (tuyến bã, nang lông…), xuất hiện ở trẻ nhỏ

- Kén thượng bì liên quan đến HPV: tổn thương có bề mặt cứng, sừng.

6. Chẩn đoán kén thượng bì?

Chẩn đoán kén thượng bì thường được thực hiện trên lâm sàng. Thường không cần sinh thiết nhưng có thể cần cắt bỏ tổn thương vì lý do thẩm mỹ hoặc do biến chứng. Các đặc điểm mô học của kén thượng bì bao gồm:

● Cấu trúc nang ở lớp trung bì

●  Một khoang đơn

● Lớp thượng bì không có nhú trung bì và có lớp hạt với các hạt keratinohyaline.

Siêu âm có thể được sử dụng trong đánh giá ban đầu về khối mô mềm nhưng thường không bắt buộc đối với kén thượng bì điển hình.

7. Biến chứng của u nang biểu bì là gì?

Việc vỡ các thành phần của kén thượng bì vào trung bì dẫn đến sưng, đỏ và đau. Điều này có thể do chấn thương hoặc nhiễm trùng do vi khuẩn, thường là do Staphylococcus aureus, Escherichia coli và liên cầu khuẩn nhóm A.

Cắt bỏ bằng phẫu thuật có thể dẫn đến chảy máu, nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn và sẹo. Nếu kén thượng bì vỡ hoặc không loại bỏ toàn bộ lớp bao thì có thể tái phát.

Hiếm khi ung thư phát sinh trong kén thượng bì.

8. Phương pháp điều trị kén thượng bì là gì?

Hầu hết các kén thượng bì nhỏ không biến chứng sẽ không cần điều trị.

Phương pháp điều trị hiệu quả nhất đối với kén thượng bì là cắt bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật với nang còn nguyên vẹn. Điều này có thể khó thực hiện sau khi kén vỡ. Khuyến cáo nên kiểm tra mô học sau phẫu thuật do nguy cơ biến đổi ác tính và chẩn đoán sai.

Trong trường hợp nhiễm trùng, có thể chỉ định dùng kháng sinh ban đầu, rạch và dẫn lưu.

Tài liệu tham khảo:

1. Zito PM, Scharf R. Cyst, Epidermoid (Sebaceous Cyst) [Updated 2019 Dec 25]. In: StatPearls. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing; 2020 Jan.

2. Cuda JD, Rangwala S, Taube JM. Benign Epithelial Tumors, Hamartomas, and Hyperplasias. In: Kang S, Amagai M, Bruckner AL, Enk AH, Margolis DJ, McMichael AJ, Orringer JS. Eds. Fitzpatrick’s Dermatology. 9th edition. New York, United States: McGraw-Hill.

3. Weir CB, St.Hilaire NJ. Epidermal Inclusion Cyst. In: StatPearls. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing; 2020 Jan.

4. Weir CB, St.Hilaire NJ. StatPearls. StatPearls Publishing; Treasure Island (FL): Aug 8, 2023. Epidermal Inclusion Cyst.

5. Kasahara R, Tajiri R, Kobayashi K, Yao M, Kitami K. Squamous Cell Carcinoma Developing from a Testicular Epidermal Cyst: A Case Report and Literature Review. Case Rep Urol. 2019;2019:9014301.

 Viết bài: THS.BS Nguyễn Mạnh Tân - Phòng chỉ đạo tuyến

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus) là một bệnh da viêm lành tính, hiếm gặp. Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các sẩn nhỏ, màu hồng, đỏ hoặc màu da, liên kết lại với nhau tạo thành một dải hoặc một vệt dài. Tổn thương điển hình phân bố dọc theo các đường Blaschko, là những đường vô hình trên da được cho là đại diện cho sự di cư của tế bào trong quá trình phát triển phôi thai.

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng là một tình trạng lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ trẻ tuổi, trưởng thành, bao gồm các sẩn viêm nhỏ và mụn mủ hoặc dát màu hồng, có vảy quanh miệng. Mặc dù vùng quanh miệng là vùng phân bố phổ biến nhất, bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt và quanh mũi.

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi là khối u lành tính có nguồn gốc từ phần phụ ở da. U ống tuyến mồ hôi biểu hiện sự biệt hóa ống dẫn đặc biệt phát sinh từ các tế bào ống dẫn mồ hôi, thường là eccrine.

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker được coi là một loại bớt thượng bì lành tính, khởi phát muộn. Các đặc điểm liên quan như phát triển quanh tuổi dậy thì, nam giới chiếm ưu thế, chứng rậm lông và tổn thương dạng mụn trứng cá gợi ý vai trò của androgen.

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce, được gọi là apocrine miliaria, là một rối loạn viêm da mãn tính hiếm gặp ảnh hưởng đến các tuyến apocrine, biểu hiện bằng các tổn thương sẩn ở các vùng như nách và hậu môn sinh dục. Được mô tả vào năm 1902 bởi George Henry Fox và John Addison Fordyce.

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota là một tổn thương sắc tố lành tính chủ yếu liên quan đến vùng phân bố của dây thần kinh sinh ba. Các nhánh thứ nhất và thứ hai của dây thần kinh sinh ba, cụ thể là nhánh mắt V1 và nhánh hàm trên V2 thường bị ảnh hưởng nhất. Có thể có tình trạng tăng sắc tố ở mắt liên quan. Bớt Ota còn được gọi là bệnh hắc tố ở da và mắt. Bớt Ito rất giống với bớt Ota ngoại trừ sự khác biệt về vị trí phân bố. Nó liên quan đến vị trí phân bố của các dây thần kinh bì cánh tay bên của vai và các dây thần kinh thượng đòn sau. Cả hai bệnh này đều có chung sinh lý bệnh học.

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố (pigmented purpuric dermatoses - PPD) còn được gọi là viêm mao mạch (capillaritis), ban xuất huyết đơn giản (purpura simplex) hoặc ban xuất huyết viêm không có viêm mạch (inflammatory purpura without vasculitis). Đây là một nhóm các tổn thương da mạn tính, lành tính, đặc trưng bởi ban xuất huyết không sờ thấy và tăng sắc tố da, hay gặp ở chi dưới. Việc nhận biết các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của bệnh da xuất huyết tăng sắc tố rất quan trọng để phân biệt với viêm mạch thực sự ở da và các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự.

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

dalieu.vn dalieu.vn