ANSM: Nguy cơ tiềm ẩn nghiêm trọng khi lạm dụng isotretinoin cho mục đích thẩm mỹ
1. Giới thiệu chung
Lupus ban đỏ hệ thống (SLE) là một trong các bệnh tự miễn hay gặp ở phụ nữ trẻ tuổi. Bệnh gây thương tổn nhiều cơ quan nội tạng như da, niêm mạc, gan, thận, khớp, tim, phổi, hệ thần kinh. Căn sinh bệnh học của lupus ban đỏ hệ thống rất phức tạp, do nhiều yếu tố tham gia. Trong những năm gần đây, hai yếu tố chính, quan trọng nhất được cho là có liên quan trực tiếp đến bệnh là di truyền và rối loạn miễn dịch. [1]
Rối loạn miễn dịch: có hiện tượng mất cân bằng trong hệ thống miễn dịch ở những người bệnh lupus ban đỏ hệ thống. Các lympho T không kiểm soát được hoạt động của các lympho B. Do vậy khi cơ thể bị nhiễm trùng kinh diễn hay bị các yếu tố ngoại lai tác động, các tế bào bị biến đổi và trở thành “lạ” đối với cơ thể mình (hay còn gọi là tự kháng nguyên). Lympho B không bị kiểm soát sẽ tăng sinh để sản xuất một lượng lớn các tự kháng thể chống lại các tự kháng nguyên đó. Tự kháng thể kết hợp với các tự kháng nguyên tạo thành phức hợp miễn dịch lắng đọng tại các mao mạch, cơ quan, tổ chức cùng với các bổ thể gây nên các hiện tượng bệnh lý ở nhiều tổ chức, cơ quan [1].
Khuyến cáo năm 2023 của EULAR về quản lý lupus ban đỏ hệ thống (SLE) cung cấp hướng dẫn liên quan đến sử dụng hydroxychloroquin (HCQ), glucocorticoid (GC), các thuốc ức chế miễn dịch (bao gồm methotrexate, mycophenolate, azathioprine, cyclophosphamide (CYC)), các thuốc ức chế calcineurin (CNI, cyclosporine, tacrolimus, voclosporin) và các thuốc sinh học (belimumab, anifrolumab, rituximab) [2].
- Hydroxychloroquine được khuyến cáo sử dụng cho tất cả đối tượng lupus với liều mục tiêu 5 mg/kg thể trọng/ngày, được điều chỉnh thêm dựa trên nguy cơ bùng phát đợt cấp và độc tính trên võng mạc.
- GC được sử dụng như liệu pháp cầu nối trong các giai đoạn bệnh hoạt động. Đối với điều trị duy trì, GC nên được giảm xuống mức liều ≤ 5 mg/ngày (liều tương đương prednisone) và tiến tới ngừng thuốc khi có thể.
- Nên cân nhắc khởi trị sớm các thuốc ức chế miễn dịch (methotrexate, azathioprine, mycophenolate) và/hoặc các thuốc sinh học (anifrolumab, belimumab) nhằm kiểm soát bệnh và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảm liều/ngừng sử dụng GC.
- Nên xem xét chỉ định cyclophosphamide trong trường hợp bệnh đe dọa chức năng cơ quan và rituximab ở các trường hợp kháng trị với các liệu pháp điều trị thông thường.
Trong các lợi ích lâm sàng trực tiếp, thuốc sinh học đã được chứng minh tác động đáng kể lên kết cục của bệnh Lupus ban đỏ hệ thống: Cải thiện trong Chỉ số Hoạt động Bệnh SLE (SLEDAI), Chỉ số Đáp ứng Lupus Ban đỏ Hệ thống (SRI), chỉ số Nhóm Đánh giá Lupus Quần đảo Anh (BILAG) và Đánh giá Lupus Tổng hợp Dựa trên BILAG (BICLA), cũng như thuyên giảm bệnh thận hoàn/một phần. Một số thuốc sinh học, belimumab (BEL) và anifrolumab (ANF), có khả năng làm giảm sự phụ thuộc vào GC. Từ đó giảm thiểu đáng kể các tác dụng phụ lâu dài của GC như tăng huyết áp, loãng xương và tăng nguy cơ nhiễm trùng.
Các thuốc sinh học cũng được chứng minh là làm giảm tần suất và mức độ nghiêm trọng của các đợt bùng phát bệnh. Các đợt bùng phát thưa và nhẹ hơn dẫn đến diễn tiến bệnh ổn định hơn, giảm gánh nặng tích lũy của SLE và cải thiện tiên lượng lâu dài.
Điều trị bằng thuốc sinh học thường ghi nhận các kết quả về chất lượng cuộc sống tốt hơn, bao gồm sự cải thiện về tình trạng mệt mỏi, đau đớn và chức năng thể chất. Từ đó thúc đẩy tuân thủ điều trị. Cải thiện chất lượng cuộc sống cũng là một mục tiêu quan trọng trong quản lý các bệnh mạn tính như lupus ban đỏ hệ thống (SLE), vì không chỉ sức khỏe thể chất mà còn cả sức khỏe tâm lý và khả năng hòa nhập xã hội. [3]
2. Cơ chế tác dụng
Rituximab là thuốc sinh học tác động lên tế bào B. Đây là một kháng thể đơn dòng IgG1 lai giữa người và chuột, nhắm đích vào kháng nguyên CD20, CD20 là một kháng nguyên bề mặt được biểu hiện sớm trong quá trình phát triển tế bào B, nhưng không xuất hiện trên các tế bào tiền tương bào và tương bào. Rituximab làm suy giảm nhanh chóng các tế bào B CD20+ bằng độc tính tế bào phụ thuộc kháng thể (ADCC) và độc tính tế bào phụ thuộc bổ thể (CDC). [3]
Belimumab là một kháng thể đơn dòng IgG1λ người, ức chế đặc hiệu yếu tố kích hoạt tế bào lympho B (BLyS, còn được gọi là BAFF hoặc TNFSF13B). Belimumab ngăn cản sự gắn kết của BLyS hòa tan với các thụ thể tương ứng trên bề mặt tế bào B. BLyS là một yếu tố quan trọng đối với sự sống còn của tế bào B. Belimumab gắn kết với BLyS, từ đó thuốc ức chế sự sống còn của tế bào B, bao gồm cả các tế bào B tự phản ứng; đồng thời làm giảm quá trình biệt hóa tế bào B thành các tương bào sản xuất immunoglobulin (kháng thể).
Nồng độ BLyS tăng cao được ghi nhận ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và nhiều bệnh tự miễn khác. Có mối liên quan giữa nồng độ BLyS trong huyết tương và mức độ hoạt động của bệnh SLE. Tuy nhiên, vai trò và mức độ ảnh hưởng của nồng độ BLyS trong cơ chế bệnh sinh của SLE hiện vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn.
Anifrolumab [5] Anifrolumab là một kháng thể đơn dòng IgG1k của người gắn với tiểu đơn vị 1 của thụ thể interferon týp I (IFNAR) với tính đặc hiệu và ái lực cao. Sự gắn kết này ức chế tín hiệu của IFN týp I, từ đó ngăn chặn hoạt tính sinh học của các IFN týp I. Anifrolumab cũng gây ra sự nội hóa IFNAR1, do đó làm giảm mức độ bề mặt tế bào IFNAR1 có khả năng gắn với thụ thể. Sự ngăn chặn dẫn truyền của IFN týp I qua thụ thể làm ức chế biểu hiện gen đáp ứng IFN cũng như các quá trình viêm và miễn dịch xuôi dòng. Sự ức chế IFN týp I ngăn chặn sự biệt hóa tế bào plasma và bình thường hóa các tế bào T dưới nhóm ngoại biên. Các IFN týp I đóng một vai trò trong sinh bệnh học của SLE. Khoảng 60 - 80% bệnh nhân trưởng thành bị SLE ở giai đoạn hoạt động biểu hiện mức độ tăng cao của gen cảm ứng IFN týp I.
3. Cập nhật chỉ định và liều dùng
3.1. Chỉ định
Belimumab được phê duyệt tại Hoa Kỳ, Canada và Liên minh Châu Âu từ năm 2011, được chỉ định như liệu pháp bổ sung cho người lớn và trẻ em từ 5 tuổi trở lên bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE) thể hoạt động, có kháng thể tự miễn dương tính và mức độ hoạt động bệnh cao (ví dụ: kháng thể anti-dsDNA dương tính và bổ thể thấp) mặc dù đã điều trị bằng liệu pháp tiêu chuẩn. Anifrolumab mới được phê duyệt gần đây tại Hoa Kỳ (2021) và Liên minh Châu Âu (2022) như một liệu pháp điều trị bổ sung ở người lớn mắc lupus ban đỏ hệ thống có tự kháng thể dương tính, mức độ trung bình đến nặng đang được điều trị tiêu chuẩn. [6], [7]
Khuyến cáo EULAR 2023 [2]
Ở những trường hợp không đáp ứng với hydroxychloroquine (đơn trị liệu hoặc phối hợp với glucocorticoid) hoặc những trường hợp không thể giảm liều glucocorticoid xuống dưới mức liều có thể chấp nhận được để sử dụng dài hạn, nên cân nhắc bổ sung các thuốc điều hòa miễn dịch/ức chế miễn dịch và/hoặc các thuốc sinh học (belimumab hoặc anifrolumab) nhằm kiểm soát bệnh và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảm liều và ngừng sử dụng GC. (1) Anifrolumab và belimumab đã được chứng minh có hiệu quả trong việc kiểm soát hoạt động bệnh, giảm các đợt bùng phát và hỗ trợ giảm liều glucocorticoid. Không có thứ tự ưu tiên nào trong việc lựa chọn giữa anifrolumab và belimumab. (2) Việc sử dụng trước một loại thuốc ức chế miễn dịch kinh điển (methotrexate, azathioprine, mycophenolate mofetil hoặc axit mycophenolic, leflunomide hoặc các loại khác) không nên được xem là điều kiện bắt buộc trước khi khởi trị anifrolumab hoặc belimumab.
Ở những trường hợp có biểu hiện bệnh đe dọa chức năng cơ quan hoặc đe dọa tính mạng, nên cân nhắc sử dụng cyclophosphamide đường tĩnh mạch; Trong các trường hợp kháng thuốc, có thể xem xét sử dụng rituximab: Rituximab sử dụng ngoài chỉ định trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống và được khuyến cáo trong các trường hợp thất bại với các phương pháp điều trị khác. Rituximab có thể được sử dụng sớm trong điều trị cấp tính giảm tiểu cầu tự miễn nặng.
3.2. Liều dùng khuyến cáo:
- Đường tĩnh mạch (IV):
Đối với lupus ban đỏ hệ thống phác đồ liều khuyến cáo là 10 mg/kg belimumab vào các ngày 0, 14 và 28, và sau đó cứ 4 tuần một lần.
- Đường dưới da (SC):
Người lớn:
Liều khuyến cáo là 200 mg mỗi tuần một lần, tiêm dưới da.
Trẻ em và thanh thiếu niên (từ 5 đến dưới 18 tuổi):
Liều tiêm dưới da được khuyến cáo dựa trên cân nặng
| Cân nặng | Liều lượng khuyến cáo |
| ≥ 50 kg | 200 mg mỗi tuần một lần |
| 30 đến < 50 kg | 200 mg mỗi 10 ngày |
| 15 đến < 30 kg | 200 mg mỗi 2 tuần |
- Chuyển từ tiêm tĩnh mạch sang tiêm dưới da:
Nếu người bệnh mắc lupus ban đỏ hệ thống chuyển từ đường truyền tĩnh mạch sang đường tiêm dưới da, mũi tiêm dưới da đầu tiên cần được thực hiện trong khoảng từ 1 đến 4 tuần sau liều truyền tĩnh mạch cuối cùng.
Liều khuyến cáo là 300mg, sử dụng đường truyền tĩnh mạch trong 30 phút, mỗi 4 tuần.
4. Các nghiên cứu chứng minh hiệu quả của thuốc sinh học trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống
Các nghiên cứu BLISS-52 và BLISS-76 là thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược. Bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống có tự kháng thể huyết thanh dương tính được phân ngẫu nhiên vào một trong ba nhóm: nhóm giả dược, nhóm belimumab liều 1 mg/kg cân nặng hoặc nhóm belimumab liều 10 mg/kg cân nặng. Thuốc được sử dụng vào các ngày 0, 14 và 28, sau đó tiếp tục dùng mỗi 28 ngày. Trong cả hai nghiên cứu BLISS-52 và BLISS-76, tiêu chí đánh giá chính là tỷ lệ bệnh nhân đạt được SRI-4. Kết quả cho thấy tỷ lệ đạt đáp ứng SRI-4 ở nhóm điều trị bằng belimumab 10 mg/kg cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm giả dược (58% so với 44% trong nghiên cứu BLISS-52 và 43% so với 34% trong nghiên cứu BLISS-76). Tỷ lệ bệnh nhân cải thiện triệu chứng cơ xương khớp và da - niêm mạc cũng cao hơn đáng kể ở nhóm điều trị bằng belimumab. [8]
Bổ sung belimumab vào phác đồ điều trị giúp làm giảm đáng kể các đợt bùng phát nặng, giảm liều glucocorticoid, hạn chế sự tích lũy tổn thương cơ quan không hồi phục và cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của người bệnh. Đây đều là những mục tiêu quan trọng trong chiến lược điều trị mục tiêu đối với lupus ban đỏ hệ thống. Các lợi ích này được duy trì, thậm chí có thể gia tăng khi sử dụng belimumab trong thời gian dài. Tuy nhiên, các đợt bùng phát hoặc tiến triển của bệnh vẫn có thể xảy ra trong quá trình điều trị. [9]
Các thử nghiệm lâm sàng gần đây nhất của anifrolumab thuộc chương trình TULIP: TULIP-1 và TULIP-2 là hai thử nghiệm pha III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược kéo dài 52 tuần, đánh giá hiệu quả và độ an toàn của anifrolumab ở bệnh nhân SLE hoạt động mức độ trung bình đến nặng đang điều trị tiêu chuẩn. Bệnh nhân được sử dụng anifrolumab truyền tĩnh mạch (liều 300 mg trong cả TULIP-1 và TULIP-2; liều 150 mg chỉ trong TULIP-1) hoặc giả dược mỗi 4 tuần, đồng thời tiếp tục điều trị tiêu chuẩn. Thiết kế nghiên cứu bao gồm yêu cầu bắt buộc giảm dần liều glucocorticoid. Mục tiêu chính TULIP-1 là chỉ số đáp ứng lupus ban đỏ hệ thống (SRI-4) tại tuần 52, tuy nhiên nghiên cứu không đạt được ý nghĩa thống kê đối với mục tiêu này. Mặc dù không đạt tiêu chí chính, nhóm sử dụng anifrolumab 300mg vẫn cho thấy sự cải thiện về mặt số liệu so với giả dược đối với hoạt động bệnh trên da, hoạt động bệnh tại khớp và mức độ hoạt động bệnh tổng thể. TULIP-2 đã chứng minh anifrolumab làm giảm đáng hoạt động bệnh so với giả dược. Đến cuối chương trình TULIP kéo dài 4 năm (tuần 208), tỷ lệ bệnh nhân đạt lui bệnh ở nhóm anifrolumab là 30,3%, so với 18,3% ở nhóm điều trị tiêu chuẩn. [10]
Kết quả từ các nghiên cứu MUSE và TULIP-2 cho thấy điều trị bằng anifrolumab trong tối đa 48 tuần có thể mang lại những cải thiện về lâm sàng và miễn dịch ở các bệnh nhân SLE có biểu hiện tăng hoạt hóa con đường interferon type I. Anifrolumab được tiếp tục đánh giá trong nghiên cứu mở rộng dài hạn (LTE) của TULIP pha III giai đoạn 2016–2020. Nghiên cứu TULIP LTE được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của anifrolumab trong thời gian theo dõi lên đến 3 năm ở bệnh nhân SLE. Trong giai đoạn mở rộng này, bệnh nhân được sử dụng anifrolumab 300 mg hoặc giả dược mỗi 4 tuần, kết hợp với điều trị tiêu chuẩn. Kết quả cho thấy anifrolumab an toàn và hiệu quả khi được sử dụng lâu dài để điều trị lupus ban đỏ hệ thống. Tỷ lệ biến cố bất lợi được hiệu chỉnh theo mức độ phơi nhiễm (EAIR) trên 100 bệnh nhân - năm ở nhóm anifrolumab thấp hơn so với giả dược, trong khi tỷ lệ nhiễm trùng nghiêm trọng không phải nhiễm trùng cơ hội tương đương giữa hai nhóm (EAIR: 3,7 nhóm anifrolumab so với 3,6 ở nhóm giả dược). [11]
Thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, giai đoạn II/III đánh giá hiệu quả và độ an toàn của rituximab trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống mức độ trung bình đến nặng (EXPLORER) không đạt được tiêu chí đánh giá chính, do đó thuốc vẫn chưa được phê duyệt chính thức cho chỉ định này [12]. Mặc dù thiếu bằng chứng thử nghiệm lâm sàng, hiệu quả của rituximab trong điều trị viêm thận lupus kháng trị và các biểu hiện ngoài thận nặng của lupus ban đỏ hệ thống đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu quan sát [13].
5. Cảnh báo thận trọng và tác dụng không mong muốn
- Cân nhắc lợi ích và nguy cơ khi sử dụng trên bệnh nhân nhiễm trùng mạn tính, có tiền sử nhiễm trùng tái diễn, hoặc có các yếu tố nguy cơ nhiễm trùng. Bệnh nhân bị nhiễm trùng trong khi đang điều trị bằng thuốc sinh học cần được theo dõi chặt chẽ và cân nhắc cẩn thận việc ngừng liệu pháp này cho đến khi nhiễm trùng được cải thiện.
- Sử dụng thuốc ức chế miễn dịch có thể làm tăng nguy cơ của các khối u ác tính. Cân nhắc lợi ích - nguy cơ của mỗi bệnh nhân với các yếu tố nguy cơ đã biết về sự phát triển hoặc tái phát khối u ác tính trước khi sử dụng. Trên những bệnh nhân xuất hiện khối u ác tính, cân nhắc lợi ích - nguy cơ của việc tiếp tục điều trị.
Belimumab:
- Không được khuyến cáo sử dụng trong các trường hợp sau: Lupus hệ thần kinh trung ương hoạt động nặng; HIV; Tiền sử hoặc hiện đang mắc bệnh viêm gan B hoặc C; Giảm gammaglobulin máu (IgG < 400 mg/dL) hoặc thiếu hụt IgA (IgA < 10 mg/dL); Tiền sử ghép tạng lớn hoặc ghép tế bào gốc tạo máu/tủy xương hoặc ghép thận.
- Nên đánh giá nguy cơ trầm cảm và tự sát dựa trên tiền sử bệnh và tình trạng tâm thần hiện tại của bệnh nhân trước khi điều trị và tiếp tục theo dõi trong suốt quá trình điều trị.
- Hội chứng Stevens–Johnson (SJS) và hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN), là những phản ứng có thể đe dọa tính mạng hoặc gây tử vong, đã được ghi nhận liên quan đến điều trị bằng Belimumab. Nếu xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ của SJS và TEN, cần ngừng sử dụng ngay lập tức và xem xét điều trị thay thế.
- Không nên tiêm vắc-xin sống trong vòng 30 ngày trước khi khởi trị hoặc đồng thời với Belimumab
Anifrolumab
- Thuốc nên được sử dụng bởi chuyên viên y tế để kiểm soát các phản ứng quá mẫn, bao gồm sốc phản vệ và các phản ứng liên quan đến tiêm truyền.
- Cần cập nhật lại việc tiêm chủng theo các hướng dẫn tiêm chủng hiện hành trước khi khởi trị. Tránh dùng đồng thời với các vắc xin sống hoặc vắc xin sống giảm độc lực trên bệnh nhân đang sử dụng anifrolumab.
Belimumab:
- Rất phổ biến: ≥ 1/10: Nhiễm trùng do vi khuẩn, ví dụ như viêm phế quản, nhiễm trùng đường tiết niệu.
- Phổ biến ( ≥ 1/100 đến < 1/10): Viêm dạ dày ruột do virus, viêm họng, viêm mũi họng, nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus; Giảm bạch cầu; Phản ứng quá mẫn; Trầm cảm ;Tiêu chảy, buồn nôn; Đau nửa đầu; Phản ứng tại chỗ tiêm, nổi mề đay, phát ban; Đau ở chi; Phản ứng toàn thân liên quan đến truyền dịch hoặc tiêm, sốt.
Anifrolumab:
Những phản ứng ngoại ý thường gặp được báo cáo nhiều nhất trong khi sử dụng anifrolumab là nhiễm trùng đường hô hấp trên (34%), viêm phế quản (11%), phản ứng liên quan đến tiêm truyền (9,4%) và herpes zoster (6,1%). Phản ứng ngoại ý nghiêm trọng thường gặp nhất là herpes zoster (0,4%).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2015), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh da liễu, pp.81-87.
2. Fanouriakis A., Kostopoulou M., Andersen J., Aringer M., et al. (2024), "EULAR recommendations for the management of systemic lupus erythematosus: 2023 update", Ann Rheum Dis, 83(1), pp.15-29.
3. Kundnani N. R., Levai M. C., Popa M.-D., Borza C., et al. (2024), "Biologics in systemic lupus erythematosus: recent evolutions and benefits", Pharmaceutics, 16(9), pp.1176.
4. Tờ thông tin sản phẩm Benlysta.
5. Tờ thông tin sản phẩm Saphnelo.
6. EMA, European Medicines Agency. Saphnelo. 2024, https://www.ema.europa.eu/en/medicines/human/EPAR/saphnelo
7. EMA, European Medicines Agency. Benlysta. 2024., https://www.ema.europa.eu/en/medicines/human/EPAR/benlysta
8. Manzi S., Sánchez-Guerrero J., Merrill J. T., Furie R., et al. (2012), "Effects of belimumab, a B lymphocyte stimulator-specific inhibitor, on disease activity across multiple organ domains in patients with systemic lupus erythematosus: combined results from two phase III trials", Annals of the rheumatic diseases, 71(11), pp.1833-1838.
9. Ruiz-Irastorza G., Bertsias G. (2020), "Treating systemic lupus erythematosus in the 21st century: new drugs and new perspectives on old drugs", Rheumatology, 59(Supplement_5), pp.v69-v81.
10. Baker T., Sharifian H., Newcombe P. J., Gavin P. G., et al. (2024), "Type I interferon blockade with anifrolumab in patients with systemic lupus erythematosus modulates key immunopathological pathways in a gene expression and proteomic analysis of two phase 3 trials", Annals of the rheumatic diseases, 83(8), pp.1018-1027.
11. Kalunian K. C., Furie R., Morand E. F., Bruce I. N., et al. (2023), "A randomized, placebo‐controlled phase III extension trial of the long‐term safety and tolerability of anifrolumab in active systemic lupus erythematosus", Arthritis & Rheumatology, 75(2), pp.253-265.
12. Merrill J. T., Neuwelt C. M., Wallace D. J., Shanahan J. C., et al. (2010), "Efficacy and safety of rituximab in moderately‐to‐severely active systemic lupus erythematosus: the randomized, double‐blind, phase II/III systemic lupus erythematosus evaluation of rituximab trial", Arthritis & Rheumatism: Official Journal of the American College of Rheumatology, 62(1), pp.222-233.
13. McCarthy E. M., Sutton E., Nesbit S., White J., et al. (2018), "Short-term efficacy and safety of rituximab therapy in refractory systemic lupus erythematosus: results from the British Isles Lupus Assessment Group Biologics Register", Rheumatology, 57(3), pp.470-479.
Viết bài: Khoa Dược
Đăng bài: Phòng Công tác xã hội
CBIP: Nguy cơ xuất huyết khi phối hợp NSAID và các thuốc chống đông đường uống nghiên cứu trên bệnh nhân ở Đan Mạch
Thuốc Bilaxten 10mg (VN-BIL-112023-012) dành cho trẻ em
Hiệu quả sử dụng calcipotriol đối với bệnh nhân vảy nến
Sáng sớm: 6h30 - 7h30
Buổi sáng: 7h30 - 12h30
Buổi chiều: 13h30 - 16h30
Ngày T7, CN và ngày lễ:Buổi sáng: 7h30 - 12h00
Buổi chiều: 14h - 17h30