Nguy cơ biến chứng thận do liệu pháp ức chế miễn dịch: Thông tin từ Bản tin Adverse Drug Reaction News của HAS
1. Bối cảnh nghiên cứu
Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) là nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm. Nhóm thuốc này cũng được sử dụng ở người bệnh bị huyết khối tĩnh mạch (VTE). Do đó, việc người bệnh sử dụng đồng thời NSAID và thuốc chống đông là khá phổ biến. Việc sử dụng đồng thời 2 nhóm thuốc này có thể tăng nguy cơ xuất huyết, đặc biệt là xuất huyết tiêu hóa do bản thân NSAID đã gây ảnh hưởng lên chức năng tiểu cầu và niêm mạc dạ dày. Các nghiên cứu trước đây về chủ đề này còn hạn chế, do cỡ mẫu không đủ lớn hoặc mới chỉ đánh giá trên một loại thuốc chống đông máu cụ thể. Do đó, chưa thể làm rõ sự khác biệt về nguy cơ xuất huyết giữa các loại thuốc chống đông và các NSAID khác nhau hay nguy cơ xuất huyết ở các các hệ cơ quan khác ngoài hệ tiêu hóa.
2. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu đoàn hệ dựa trên tất cả dữ liệu người bệnh ngoại trú và nội trú trên toàn quốc gia Đan Mạch. Đối tượng nghiên cứu là người bệnh trường thành (≥18 tuổi) có đợt huyết khối tĩnh mạch đầu tiên, và được bắt đầu điều trị bằng thuốc chống đông đường uống trực tiếp (rivaroxaban, apixaban, dabigatran hoặc edoxaban) hoặc thuốc chống đông đối kháng vitamin K (warfarin) từ ngày 01/01/2012 đến ngày 31/12/2022. Những người bệnh có tiền sử xuất huyết bị loại trừ khỏi nghiên cứu.
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá nguy cơ xuất huyết liên quan đến việc sử dụng đồng thời NSAID và thuốc chống đông đường uống trên những người bệnh bị huyết khối tĩnh mạch.
3. Kết quả
Nghiên cứu tiến hành trên 51.794 người bệnh VTE với tỷ lệ người bệnh nữ chiếm 48% và độ tuổi trung bình là 69 tuổi. Tỷ lệ ghi nhận biến cố xuất huyết trên 100 người-năm là 3,5 (ở nhóm chỉ sử dụng thuốc chống đông) và là 6,3 (ở nhóm sử dụng đồng thời thuốc chống đông và NSAID). Số người bệnh phơi nhiễm với thuốc để ghi nhận được 1 trường hợp xuất hiện biến cố bất lợi (Number needed to harm - NNH) là 36 (95% CI: 24 - 72) hay nói cách khác cứ 36 người bệnh sử dụng đồng thời chống đông máu và NSAID trong một năm sẽ ghi nhận thêm được một trường hợp xuất huyết.
Nguy cơ xuất huyết khác nhau giữa các chống đông và các NSAIDs khác nhau:
Nguy cơ xuất huyết cũng phụ thuộc vào loại chống đông đường uống được sử dụng. Cụ thể:
- Thuốc chống đông đường uống trực tiếp (DOAC): HR 2,27 (1,73 - 3,00)
- Warfarin: HR 1,79 (1,16 -2,76)
Bảng 1: Nguy cơ xuất huyết khi sử dụng đồng thời thuốc chống đông đường uống và các NSAID so với sử dụng thuốc chống đông đường uống đơn độc.

Nguy cơ xuất huyết khác nhau đối với từng hệ cơ quan:
- Xuất huyết tiêu hóa HR 2,24 (1,61–3,11)
- Xuất huyết nội sọ HR 3,22 (1,69–6,14)
- Xuất huyết hô hấp/ngực HR 1,36 (0,67–2,77) (không có ý nghĩa thống kê)
- Xuất huyết tiết niệu HR 1,57 (0,98–2,51) (không có ý nghĩa thống kê)
- Thiếu máu do chảy máu HR 2,99 (1,45–6,18)
4. Hạn chế của nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu đoàn hệ quan sát, do đó không thể loại trừ hoàn toàn sai số và các yếu tố gây nhiễu. Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi toàn quốc, do đó, kết quả có thể khái quát được cho quần thể dân số tại Đan Mạch và các quốc gia tương tự. Chưa ghi nhận được việc sử dụng NSAID không có kê đơn và việc tuân thủ điều trị với NSAID, do đó, mức độ phơi nhiễm NSAID thấp hơn so với thực tế.
5. Khuyến cáo của CBIP
Nghiên cứu này cảnh báo về nguy cơ xuất huyết tăng khi kết hợp các thuốc chống đông đường uống (DOAC, warfarin) và NSAID. Do đó, cần thận trọng khi kê đơn đồng thời 2 nhóm thuốc này. Khi người bệnh đang sử dụng thuốc chống đông cần giảm đau, phải đánh giá cân bằng lợi ích-nguy cơ và cân bằng lựa chọn thay thế trước khi kê đơn NSAID. Ngoài ra, người bệnh có thể tự ý mua và sử dụng một số NSAID không cần kê đơn (như: ibuprofen, naproxen) nên lưu ý về việc cấp phát các thuốc này cho người bệnh.
Lưu ý rằng, nguy cơ xuất huyết cũng tăng khi phối hợp thuốc chống đông với các thuốc có nguy cơ xuất huyết khác, như thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI hoặc SNRI.
Tham khảo:
1. https://www.cbip.be/fr/ains-anticoagulants-oraux-une-association-a-haut-risque
2. https://canhgiacduoc.org.vn.
Viết bài: Khoa Dược
Đăng bài: Phòng Công tác xã hội
Thuốc Bilaxten 10mg (VN-BIL-112023-012) dành cho trẻ em
Hiệu quả sử dụng calcipotriol đối với bệnh nhân vảy nến
Thuốc Tacrolimus bôi tại chỗ trong điều trị bệnh da
Health Canada: Methotrexat và bệnh thiếu máu tán huyết
FDA đưa ra cảnh báo về thuốc chống động kinh levetiracetam có thể gây ra hội chứng DRESS, phản ứng hiếm gặp nghiêm trọng đe dọa đến tính mạng, với các triệu chứng gồm sốt, phát ban, sưng hạch bạch huyết, hoặc tổn thương các cơ quan, tổ chức cơ thể như: gan, thận, phổi, tim hoặc tuyến tụy. Nhân viên y tế cần tư vấn cho bệnh nhân về các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng DRESS và ngừng sử dụng thuốc, thăm khám ngay nếu nghi ngờ gặp hội chứng DRESS trong quá trình sử dụng levetiracetam.
Theo thông tin đưa ra mục Thai kỳ và cho con bú – Tờ thông tin sản phẩm Augmentin: trong một nghiên cứu đơn ở những phụ nữ sinh non do vỡ màng ối sớm (pPROM), đã có báo cáo về việc điều trị dự phòng với Augmentin có thể liên quan đến tăng nguy cơ viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh. Câu hỏi đặt ra: Liệu Amoxicillin-acid clavulanic (Augmentin)có còn là lựa chọn ưu tiên trên đối tượng phụ nữ có thai trong các trường hợp nhiễm khuẩn trong chỉ định?
Thuốc ức chế Janus kinase đường uống trong điều trị viêm da cơ địa: Tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp
Sáng sớm: 6h30 - 7h30
Buổi sáng: 7h30 - 12h30
Buổi chiều: 13h30 - 16h30
Ngày T7, CN và ngày lễ:Buổi sáng: 7h30 - 12h00
Buổi chiều: 14h - 17h30