Hồng ban nút (Erythema nodusum)

Ngày đăng: 19/02/2025 bvdalieutrunguong

1. Đại cương

Hồng ban nút là phản ứng quá mẫn chậm thường biểu hiện dưới dạng các nốt ban đỏ, mềm kèm đau ở mặt trước cẳng chân. Nguyên nhân của bệnh lý này có thể tự phát hoặc sau 1 số các nguyên nhân như nhiễm khuẩn (đặc biệt là nhiễm liên cầu),  virus hoặc sau khi sử dụng thuốc. Một số báo cáo mới về tình trạng mắc hồng ban nút sau tiêm vắc xin hoặc nhiễm COVID-19.

Bệnh có thể gặp ở bất kì tuổi nào, tuy nhiên thường gặp nhất ở người trẻ từ 18–34 tuổi. Thường gặp ở nữ nhiều hơn nam.

2. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh

2.1. Nguyên nhân

Hồng ban nút là kết quả của một quá trình phản ứng được tạo ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Một số nguyên nhân gây hồng ban nút như: nhiễm khuẩn, thuốc, bệnh hệ thống, có thai và bệnh ác tính,…Tuy nhiên, có trên 50% trường hợp hồng ban nút là tự phát.

2.2. Cơ chế bệnh sinh

Chưa xác định được cơ chế chính xác. Tuy nhiên có một số giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của hồng ban nút như:

Hồng ban nút là kết quả của sự lắng đọng phức hợp miễn dịch ở vách của mô mỡ là chủ yếu, với sự xâm nhập viêm của bạch cầu đa dạng tùy giai đoạn bệnh. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu chưa giải thích được đây là nguyên nhân hay là hậu quả của bệnh.

Liên quan tới gen: trong một nghiên cứu cho thấy ở những bệnh nhân hồng ban nút có hiện tượng tăng sản xuất TNF alpha và hình thành u hạt.

3. Lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng điển hình của hồng ban nút chủ yếu là các cục hoặc các mảng nóng, đỏ, thường mềm, không loét, không di động, đau ranh giới không rõ, đường kính từ 2–5cm, ở mặt duỗi 2 cẳng chân, đối xứng nhau. Tổn thương khi khỏi không để lại sẹo hay teo da.  

Vị trí điển hình là ở mặt trước cẳng chân. Tuy nhiên, một số vị trí không điển hình khác như: cánh tay, đùi, hiếm khi xuất hiện ở thân mình và mặt, đặc biệt là hồng ban nút ở trẻ em.

Tổn thương có thể tồn tại vài ngày hoặc vài tuần sau đó liên kết với nhau tạo thành mảng đỏ hoặc mảng thâm tím nếu có xuất huyết trong mô mỡ. Tổn thương thường kéo dài vài tuần, tuy nhiên một số trường hợp có thể kéo dài hơn hoặc xuất hiện đồng thời cả tổn thương cũ và mới do tái phát.

Triệu chứng toàn thân không đặc hiệu và thường gặp nhất là sốt nhẹ, mệt mỏi, đau khớp, viêm khớp.

Biểu hiện viêm đường hô hấp trên thường xuất hiện trước khi có tổn thương da.Biểu hiện ở mắt có thể xuất hiện cùng với các tổn thương da.

Hình 1. Tổn thương cục màu đỏ ranh giới không rõ vùng mặt trước cẳng chân hai bên là biểu hiện điển hình của hồng ban nút (Nguồn: Internet)

Hình 1. Tổn thương cục màu đỏ ranh giới không rõ vùng mặt trước cẳng chân hai bên là biểu hiện điển hình của hồng ban nút (Nguồn: Internet)

Hình 2. Tổn thương cục màu đỏ ranh giới không rõ vùng mặt trước cẳng chân hai bên là biểu hiện điển hình của hồng ban nút (Nguồn: Internet)

Hình 2. Tổn thương cục màu đỏ ranh giới không rõ vùng mặt trước cẳng chân hai bên là biểu hiện điển hình của hồng ban nút (Nguồn: Internet)

4. Cận lâm sàng

- Công thức máu: để đánh giá các dấu hiệu nhiễm trùng và bệnh ác tính về huyết học

- Tốc độ máu lắng, CRP: tăng cao

- Nếu nguyên nhân do nhiễm liên cầu thì ASLO tăng cao.

- Test mantoux phải được thực hiện để loại trừ hồng ban nút do lao ở những nước có tỉ lệ nhiễm lao cao.

- XQ ngực thẳng: loại trừ hồng ban nút do nhiễm khuẩn, do lao và do sarcoidosis.

- Mô bệnh học: được phân loại vào nhóm viêm vách mô mỡ và không có viêm mạch, mặc dù viêm thùy mỡ có thể kèm theo trong một vài trường hợp. Thành phần của các tế bào viêm khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn của tổn thương. U hạt Miescher là tiêu chuẩn vàng của hồng ban nút: là những u hạt ranh giới rõ có các mô bào (histiocyte) bao xung quanh, ở trung tâm rải rác có các khe hình sao

Hình 3: Mô bệnh học của hồng ban nút A: Viêm vách mô mỡ với thâm nhiễm viêm hỗn hợp histiocyte, lymphocyte, bạch cầu trung tính và bạch cầu ái toan. B: U hạt xuyên tâm miescher (mũi tên đen)

Hình 3: Mô bệnh học của hồng ban nút A: Viêm vách mô mỡ với thâm nhiễm viêm hỗn hợp histiocyte, lymphocyte, bạch cầu trung tính và bạch cầu ái toan. B: U hạt xuyên tâm miescher (mũi tên đen)

5. Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định hồng ban nút chủ yếu dựa vào lâm sàng điển hình.

Mô bệnh học giúp chẩn đoán trong những trường hợp khó như: vị trí chính của tổn thương không phải mặt trước cẳng chân, tổn thương có dấu hiệu xuất huyết, loét, kích thước lớn (>5 cm)

Một số các chẩn đoán phân biệt cần đặt ra như viêm mô bào, viêm đa động mạch nút, viêm mô mỡ cấp tính, các viêm mạch khác,…

6. Điều trị

        Hồng ban nút có thể tự thoái triển mà không cần điều trị gì. Hơn 50% bệnh nhân hồng ban nút do tự phát, vì vậy điều trị triệu chứng rất quan trọng.

6.1. Nguyên tắc điều trị

- Điều trị triệu chứng

- Loại bỏ nguyên nhân gây bệnh

6.2. Chăm sóc tại chỗ

- Nghỉ ngơi tại giường

- Nâng cao chân

- Đi tất có áp lực

6.3. Thuốc toàn thân

- Thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAIDs): vừa tác dụng chống viêm và tác dụng giảm đau. Một số thuốc hay sử dụng: Ibuprofen, Naproxen

- Kali iod: một số nghiên cứu cho rằng Kali iod carit thiện cơn đau trong vòng 24h và cải thiện được tổn thương da của hồng ban nút trong sau vài ngày. Nếu không thấy đáp ứng sau 2-3 tuần điều trị thì nên dừng.

- Glucocorticoid toàn thân: Khi bệnh nhân không đáp ứng với NSAID và kali iodide hoặc cần cải thiện nhanh chóng triệu chứng có thể điều trị một liệu trình ngắn. Trước khi sử dụng cần loại trừ nguyên nhân nhiễm khuẩn.

- Bệnh dai dẳng, mạn tính hoặc tái phát: có thể cần điều trị ức chế mạn tính hoặc điều trị từng đợt lặp lại. Các thuốc được chính minh có hiệu quả là colchicine, dapsone, hydroxychloroquine

       + Colchicin (đặc biệt tốt đối với bệnh nhân hồng ban nút do Behcet): thường điều trị 2 đến 4 tuần.

       + Dapsone, Hydroxychloroquine: hiệu quả được chứng minh chỉ giới hạn ở báo cáo ca bệnh.

- Tiêm corticosteroid nội thương tổn là một phương pháp điều trị cho những bệnh nhân có số lượng tổn thương ít và không dung nạp glucocorticoid toàn than.

6.4. Phương pháp điều trị khác

Các thuốc ức chế yếu tố hoại tử khối u (TNF)-alpha đối với hồng ban nút nặng hoặc kháng trị. Một số lợi ích đã được báo cáo với etanercept, adalimumab, infliximab.

7. Tiên lượng

Tiên lượng tốt, với hầu hết các trường hợp tự khỏi hoặc với sự chăm sóc hỗ trợ.

Tái phát có thể xảy ra ở một phần ba số trường hợp thường gặp trong các trường hợp do bệnh viêm mãn tính gây ra.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.N.H. Cox, J.L. Jorizzo, J.F. Bourke, et al. Vasculitis, neutrophilic dermatoses and related disorders, Rook’s textbook of dermatology, 2010, 8th edition.

2. Iris K. Aronson, Patricia M. Fishman, and Sophie M. Worobec. Panniculitis, Fitzpatrick’s dermatology in general medicine, 2019, 9th edition.

3. Pérez-Garza DM, Chavez-Alvarez S, Ocampo-Candiani J, Gomez-Flores M. Erythema Nodosum: A Practical Approach and Diagnostic Algorithm. Am J Clin Dermatol. 2021;22(3):367–78.

4.Leung AKC, Leong KF, Lam JM. Erythema nodosum. World J Pediatr WJP. 2018 Dec;14(6):548–54.

5. Hafer J, Soumekh L, Thang C. Erythema nodosum after COVID-19 vaccination in a pediatric patient. JAAD Case Rep 2022; 23:12.

Viết bài:  BSNT.Phạm Thị Hoàng Yến 

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus) là một bệnh da viêm lành tính, hiếm gặp. Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các sẩn nhỏ, màu hồng, đỏ hoặc màu da, liên kết lại với nhau tạo thành một dải hoặc một vệt dài. Tổn thương điển hình phân bố dọc theo các đường Blaschko, là những đường vô hình trên da được cho là đại diện cho sự di cư của tế bào trong quá trình phát triển phôi thai.

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng là một tình trạng lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ trẻ tuổi, trưởng thành, bao gồm các sẩn viêm nhỏ và mụn mủ hoặc dát màu hồng, có vảy quanh miệng. Mặc dù vùng quanh miệng là vùng phân bố phổ biến nhất, bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt và quanh mũi.

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi là khối u lành tính có nguồn gốc từ phần phụ ở da. U ống tuyến mồ hôi biểu hiện sự biệt hóa ống dẫn đặc biệt phát sinh từ các tế bào ống dẫn mồ hôi, thường là eccrine.

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker được coi là một loại bớt thượng bì lành tính, khởi phát muộn. Các đặc điểm liên quan như phát triển quanh tuổi dậy thì, nam giới chiếm ưu thế, chứng rậm lông và tổn thương dạng mụn trứng cá gợi ý vai trò của androgen.

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce, được gọi là apocrine miliaria, là một rối loạn viêm da mãn tính hiếm gặp ảnh hưởng đến các tuyến apocrine, biểu hiện bằng các tổn thương sẩn ở các vùng như nách và hậu môn sinh dục. Được mô tả vào năm 1902 bởi George Henry Fox và John Addison Fordyce.

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota là một tổn thương sắc tố lành tính chủ yếu liên quan đến vùng phân bố của dây thần kinh sinh ba. Các nhánh thứ nhất và thứ hai của dây thần kinh sinh ba, cụ thể là nhánh mắt V1 và nhánh hàm trên V2 thường bị ảnh hưởng nhất. Có thể có tình trạng tăng sắc tố ở mắt liên quan. Bớt Ota còn được gọi là bệnh hắc tố ở da và mắt. Bớt Ito rất giống với bớt Ota ngoại trừ sự khác biệt về vị trí phân bố. Nó liên quan đến vị trí phân bố của các dây thần kinh bì cánh tay bên của vai và các dây thần kinh thượng đòn sau. Cả hai bệnh này đều có chung sinh lý bệnh học.

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố (pigmented purpuric dermatoses - PPD) còn được gọi là viêm mao mạch (capillaritis), ban xuất huyết đơn giản (purpura simplex) hoặc ban xuất huyết viêm không có viêm mạch (inflammatory purpura without vasculitis). Đây là một nhóm các tổn thương da mạn tính, lành tính, đặc trưng bởi ban xuất huyết không sờ thấy và tăng sắc tố da, hay gặp ở chi dưới. Việc nhận biết các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của bệnh da xuất huyết tăng sắc tố rất quan trọng để phân biệt với viêm mạch thực sự ở da và các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự.

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

dalieu.vn dalieu.vn