Trường hợp hiếm gặp: Zona và Thủy đậu khởi phát dồng thời
1. Đại cương về Tacrolimus (TAC)
Tacrolimus (TAC) là một macrolid chiết xuất từ Streptomyces tsukubaensis, phát hiện năm 1987 tại Nhật Bản. TAC có tác dụng ức chế mạnh miễn dịch và có hoạt tính kháng khuẩn nhưng rất hạn chế. Thuốc được sử dụng rất rộng rãi trong ghép tạng. Trong chuyên ngành da liễu, TAC dạng bôi được sử dụng rộng rãi, dữ liệu dùng TAC đường uống trong da liễu còn hạn chế.
1.1 Cơ chế tác dụng:
Tacrolimus liên kết với FKBP-12 (một protein nội bào) -> ngăn chặn sự hoạt hóa calcineurin -> ức chế quá trình khử phosphoryl hóa yếu tố nhân của tế bào T hoạt hóa (NFAT) và ngăn chặn sản xuất các cytokine quan trọng như IL-2, IL-3, IL-4, IL-8, GM-CSF và TNF-α (hoạt hóa, tăng sinh và biệt hóa của tế bào lympho T).
Ngoài ra, thuốc còn ức chế giải phóng các chất trung gian gây viêm từ các tế bào mast và basophil, giảm biểu hiện của các thụ thể có ái lực cao đối với IgE (FcεRI) trên các tế bào Langerhans -> giảm các triệu chứng của bệnh da như đỏ da, ngứa và ban đỏ.
1.2 Dược động học:
Thuốc hấp thu không hoàn toàn và rất dao động khi uống, đạt nồng độ đỉnh trong máu sau khoảng 1 – 3h. Thời gian bán thải từ 4-41h (12h).
Sinh khả dụng đường uống chỉ khoảng 20-25%. Thức ăn, đặc biệt chất béo làm giảm hấp thu thuốc một cách đáng kể.
Tacrolimus chuyển hóa rất mạnh ở gan qua hệ thống cytochrom P450 CYP3A4. Đường thải trừ chủ yếu là vào mật (95%)
Do TAC có sinh khả dụng biến đổi và khoảng trị liệu rất hẹp -> Đo nồng độ Tacrolimus trong máu là cực kỳ quan trọng để chỉnh liều chính xác cho từng bệnh nhân, đảm bảo thuốc đạt hiệu quả và tránh được các tác dụng phụ độc tính.
1.3 Tác dụng phụ của thuốc:
1.4 Tương tác thuốc:
1.5 Đối tượng và cách sử dụng:
1.6. heo dõi trước và trong quá trình sử dụng thuốc:
2. Ứng dụng của Tacrolimus đường uống trong da liễu
Mặc dù có sự khác biệt về cấu trúc so với cyclosporine, cả hai loại thuốc đều có tác dụng ức chế miễn dịch tương tự nhau. Tuy nhiên, TAC mạnh hơn 10–100 lần trong ống nghiệm và do có trọng lượng phân tử nhỏ hơn, nên nó thẩm thấu qua lớp biểu bì dễ dàng hơn. Hơn nữa, mặc dù có các tác dụng phụ quan trọng tương tự như cyclosporine (độc tính trên thận, tiểu đường và độc tính thần kinh), tacrolimus ít gây tăng cholesterol máu và tăng huyết áp hơn và hiếm khi gây ra các tác dụng phụ như tăng sản nướu, chứng rậm lông và làm thô các nét mặt liên quan đến cyclosporine.
2.1. Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống có tổn thương thận
Hiệu quả của tacrolimus trong điều trị viêm thận đã được xác nhận bởi nhiều nghiên cứu lâm sàng. Một phân tích tổng hợp cho thấy tacrolimus đơn độc hoặc kết hợp (TAC + MMF) có hiệu quả hơn cyclophosphamide tiêm tĩnh mạch trong việc gây thuyên giảm hoàn toàn thận ở bệnh viêm thận lupus vừa phải, và tacrolimus có thể hiệu quả hơn trong việc giảm protein niệu, với các tác động tiềm tàng đến kết quả lâu dài ( Jennifer và cộng sự, 2015 ). Tương tự, một nghiên cứu của Li và cộng sự minh họa rằng tacrolimus kết hợp với MMF có hiệu quả hơn so với MMF đơn độc trong điều trị viêm thận lupus; tuy nhiên, phương pháp kết hợp này có thể đi kèm với nguy cơ tác dụng phụ nghiêm trọng cao hơn so với liệu pháp đơn trị ( Young Ho và Gwan Gyu, 2021 ). Hơn nữa, tacrolimus đã chứng minh hiệu quả vượt trội, đặc biệt là trong việc gây thuyên giảm lupus thận hoạt động (độ III/IV/V) hoặc lupus kháng trị (độ IV/V), như đã được chứng minh bằng thử nghiệm thích ứng được thực hiện ở quần thể châu Á ( Andreas và cộng sự, 2019 ). Một thử nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên với theo dõi dài hạn cho thấy sau 60,8 ± 26 tháng điều trị, 24% bệnh nhân trong nhóm MMF phát triển protein niệu, 18% bị bùng phát viêm thận và 21% phát triển bất thường chức năng thận (giảm ≥30% độ thanh thải creatinin hoặc tiến triển bệnh thận mạn tính đến giai đoạn 4/5 hoặc tử vong) so với xác suất xảy ra các trường hợp trên ở nhóm tacrolimus, lần lượt là 35%, 27% và 22% ( Chi Chiu và cộng sự, 2015 ).
Mặc dù việc sử dụng tacrolimus trong thời gian dài gây ra những lo ngại về độc tính, nhưng nó cũng chứng minh được tính an toàn chấp nhận được khi có hiệu quả lâm sàng đáng kể. Trong LN, một nghiên cứu với thời gian điều trị trung bình là 309 ngày cho thấy tỷ lệ mắc các tác dụng phụ nói chung tương đối thấp ở mức 20,8%, với phản ứng có hại của thuốc ở 9,8% bệnh nhân. Trong số này, hầu hết các biến cố (69,4%) đều nhẹ và chỉ có 37,8% trong số tất cả các biến cố bất lợi được coi là có thể liên quan đến tacrolimus. Nghiên cứu của Tanaka và cộng sự là một nghiên cứu có triển vọng với quần thể người trưởng thành trẻ tuổi, thời gian điều trị trung bình là 42 tháng và liều duy trì khởi đầu của tacrolimus là 3 mg/ngày. Kết quả cho thấy liệu pháp ức chế miễn dịch liều thấp, dài hạn dựa trên tacrolimus có lợi và có độc tính tế bào thấp, điều này chứng tỏ tacrolimus là một lựa chọn hấp dẫn cho bệnh nhân trẻ mắc viêm thận lupus ( Hiroshi và cộng sự, 2013 ). Thú vị hơn, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tacrolimus không có tác động tiêu cực đến khả năng sinh sản của phụ nữ trẻ và an toàn trong thời kỳ mang thai và cho con bú, vượt trội hơn MMF và CYC ( Carina và cộng sự, 2016 ).
Ngoài ra, hiệu quả và độ an toàn của tacrolimus trong điều trị LN rất khác nhau giữa các cá nhân, điều này có thể liên quan đến một số biến thể di truyền ảnh hưởng đến dược động học của tacrolimus.
2.2. Bệnh xơ cứng bì hệ thống
Nghiên cứu của J. Mathew và công sự trên 26 bệnh nhân SSc chia thành 2 nhóm điều trị với MMF hoặc Tacrolimus trong 24 tuần, mức thay đổi trung bình của FVC lần lượt là 4,4% và 6,92% ở nhóm MMF và nhóm tacrolimus (chênh lệch 2,52%, KTC 95%; p-0,500). Tất cả bệnh nhân dùng tacrolimus và 85% bệnh nhân dùng MMF đều ổn định (ΔFVC% -5% - 5%) hoặc cải thiện (ΔFVC%> 10%) chức năng phổi. Nồng độ tacrolimus trung bình là 4,9 ng/ml (1,47) và liều trung bình cần thiết để đạt được nồng độ này là 4mg/ngày. Không có biến cố bất lợi nghiêm trọng nào được ghi nhận ở cả hai nhóm; việc sử dụng tacrolimus không dẫn đến suy thận hoặc các cơn suy thận cấp.
Nghiên cứu của Yuki Ichimura và cộng sư trên 20 bệnh nhân xơ cứng bì tại Nhật bản cho thấy sử dụng Tacrolimus sau cyclophosphamide đường tĩnh mạch có thể là một lựa chọn điều trị cho SSc-ILD, với khả năng dung nạp tốt.
2.3. Bệnh viêm bì cơ
- Viêm bì cơ kháng trị - không đáp ứng với firstline
- Giảm đau cơ và men cơ
- Điều trị viêm phổi kẽ: Điều trị ngay từ đầu ở viêm phổi kẽ do viêm bì cơ nặng, phối hợp Corticoid ± Cyclophosphamide -> Phác đồ “triple therapy”.
Tác dụng nhanh trên phổi (ILD).
- Giảm liều Corticoid nhanh chóng.
- Dùng dài hạn an toàn hơn Cyclophosphamide.
Nghiên cứu của Yongpeng Ge và cộng sự trên 135 bệnh nhân viêm bì cơ/viêm da cơ điều trị Tacrolimus với liều 0.075mg/kg/ngày (1- 3.5mg/ngày) kết hợp với corticoid toàn thân cho thấy, 93,3% (42/45) và 64,7% (11/17) bệnh nhân cho thấy sự cải thiện về sức mạnh cơ và tình trạng chức năng thể chất. Nồng độ creatine kinase (CK) của 100% (68/68) bệnh nhân đã giảm. Liều corticoid trung bình đã giảm từ 33,8 xuống 11,5 mg/ngày ở bệnh nhân PM/DM sau khi bổ sung tacrolimus. Sau khi điều trị, dung tích sống gắng sức (FVC) và khả năng khuếch tán carbon monoxide (DLCO) đã cải thiện hoặc ổn định ở lần lượt 89,3% (25/28) và 81,3% (13/16) bệnh nhân. Các tác dụng phụ thường gặp là độc tính với thận, hạ magie máu, run và tăng huyết áp, nhưng chúng ở mức độ nhẹ ở những bệnh nhân này. Bằng chứng hiện tại dường như ủng hộ việc sử dụng tacrolimus ở bệnh nhân PM/DM và PM/DM-ILD kháng trị.
2.4. Bệnh vảy nến
Tacrolimus tại chỗ: vảy nến đảo ngược và vảy nến ở mặt, bộ phận sinh dục và móng tay. Tacrolimus tại chỗ có vai trò như một tác nhân thay thế corticosteroid và có thể ít gây ra tác dụng phụ hơn so với các chế phẩm bôi ngoài da khác.
Tacrolimus đường uống đã cho thấy hiệu quả trong điều trị bệnh vẩy nến nặng, kháng trị. So với ciclosporin, tacrolimus toàn thân có thể phù hợp hơn với nhóm bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao.
Đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả của tacrolimus đường uống trong điều trị vảy nến (bảng 1)
2.4. Các bệnh lý da liễu khác
Một số ca bệnh nhỏ lẻ có báo cáo sử dụng TAC đường uống điều trị một số bệnh lý da liễu khác như:
Các tác dụng điều trị này chủ yếu được thấy khi các bệnh nhân sau ghép tạng có sử dụng TAC đường uống để chống thải ghép và thấy cải thiện tình trạng các bệnh lý da liễu kèm theo.
3. Kết luận
TAC ức chế một số yếu tố của miễn dịch qua trung gian tế bào T. TAC Cơ chế tương tự như cyclosporine, nhưng trọng lượng phân tử của nó nhỏ hơn nên khả năng thẩm thấu qua da hiệu quả hơn.
TAC có thể chỉ định trong điều trị viêm thận lupus, viêm phổi kẽ trong bệnh xơ cứng bì, viêm bì cơ và vảy nến kháng trị.
Tài liệu tham khảo:
1. Yuki Ichimura, et al. Effectiveness and Safety of Tacrolimus Following Intravenous Cyclophosphamide Pulse Therapy As the Treatment of Systemic Sclerosis-Associated Interstitial Lung Disease. Arthritis Rheumatol. 2017; 69 (suppl 10).2. J. Mathew, et al. OP0240 A RANDOMIZED CONTROLLED TRIAL TO COMPARE THE EFFICACY OF TACROLIMUS WITH MYCOPHENOLATE MOFETIL IN PATIENTS WITH SYSTEMIC SCLEROSIS - INTERSTITIAL LUNG DISEASE (INSIST TRIAL). Annals of the Rheumatic Diseases. 20233. Yongpeng Ge, et al. The efficacy of tacrolimus in patients with refractory dermatomyositis/polymyositis: a systematic review. Clin Rheumatol. 2015
4. Nina Malecic, et al. Tacrolimus for the management of psoriasis: clinical utility and place in therapy. Psoriasis (Auckl). 2016
5. Tsutomu Takeuchi, et al. Long-term Safety and Effectiveness of Tacrolimus in Patients With Lupus Nephritis: 5-year Interim Postmarketing Surveillance Study in Japan (TRUST). The Journal of Rheumatology January 2021
Viết bài: THS.BSNT Nguyễn Thị Thảo Nhi - Khoa Điều trị bệnh da tổng hợp
Đăng bài: Phòng Công tác xã hội
Sáng sớm: 6h30 - 7h30
Buổi sáng: 7h30 - 12h30
Buổi chiều: 13h30 - 16h30
Ngày T7, CN và ngày lễ:Buổi sáng: 7h30 - 12h00
Buổi chiều: 14h - 17h30