Bệnh bạch tạng và ung thư tế bào vảy ở da có mối liên quan như thế nào

Ngày đăng: 31/10/2023 bvdalieutrunguong

Thời gian qua, Bệnh viện đã tiếp nhận điều trị trường hợp SCC (ung thư biểu mô tế bảo vảy) và đa tổn thương dày sừng ánh sáng trên bệnh nhân bạch tạng.

Báo cáo ca bệnh: 

Bệnh nhân nữ, 55 tuổi, quê quán Văn Lâm- Hưng Yên,  đến khám vì tổn thương là khối u xâm lấn, sùi, loét chảy dịch mủ, có lúc chảy máu tại mu tay T. Bệnh diễn biến 20 năm nay, bệnh nhân xuất hiện các tổn thương dát đỏ, bong vảy mỏng, trợt da tập trung vùng da hở mặt, cổ, cẳng tay, cẳng chân 2 bên, không đau, không ngứa. Khoảng 1 năm nay, trên nền tổn thương dát đỏ mu tay, bệnh nhân xuất hiện mảng đỏ, bề mặt sẩn sùi, loét, chảy máu vùng mu bàn tay T, tăng dần kích thước theo thời gian, không đau, bệnh nhân chưa điều trị.

Khám lúc vào viện:

– Mu tay T: Tổn thương là khối u xâm lấn, sần sùi, loét, chảy dịch mủ và máu, ranh giới tương đối rõ, hạn chế vận động tay T, kích thước khối u 4x4.5cm

– Mặt, cổ, cẳng tay, cẳng chân 2 bên: Dát đỏ, bong vảy mỏng, trợt da lan tỏa, ranh giới không rõ

– Giảm sắc tố da, lông tóc toàn thân bẩm sinh:

    + Da: trắng

    + Lông mi, lông mày, chân tóc: xám

– Khám mắt:

    + Mống mắt màu xám

    + Sợ ánh sáng

    + Rung giật ngang nhãn cầu tự phát, giảm khi nhìn có chủ ý

    + Giảm thị lực 2 mắt: đếm ngón tay xa nhất 3m

– Giải phẫu bệnh: + Mu tay T: SCC (Ung thư biểu mô vảy)

Hình 1: Tổn thương khối u sùi, loét vùng mu tay T

Hình 1: Tổn thương khối u sùi, loét vùng mu tay T

                

Hình 2: Lông mày, lông mi, đồng tử màu xám

Hình 2: Lông mày, lông mi, đồng tử màu xám

Chẩn đoán: SCC mu tay T/ Đa tổn thương dày sừng ánh sáng/  Bach tạng

Điều trị: Phẫu thuật cắt bỏ rộng khối ung thư theo tiêu chuẩn, sinh thiết hạch gác, chăm sóc tại chỗ.

Kết quả: Hiện tại, bênh nhân ổn định sau phẫu thuật khối ung thư và tạo hình mu bàn tay và tiếp tục điều trị theo phác đồ sau phẫu thuật.

 Bàn luận:

Bệnh bạch tạng hay hội chứng bạch tạng là một nhóm các tình trạng di truyền dẫn đến việc các tế bào hắc tố bị khiếm khuyết, không thể tổng hợp melanin hoặc phân phối nó một các chính xác đến các mô có nguồn gốc từ ngoại bì (đáng chú ý nhất là da, lông, tóc và mắt). Vì melanin có tác dụng bảo vệ da khỏi tác hại của tia UV nên bệnh nhân bạch tạng tăng nguy cơ bị tổn thương do ánh nắng mặt trời (đồi mồi, dày sừng ánh sáng, bỏng nắng) và các khối u ác tính liên quan đến tia cực tím (đặc biệt là ung thư biểu mô tế bào vảy).

Nhân case lâm sàng báo cáo trên đây, chúng tôi thấy rằng việc quản lý các bệnh nhân bạch tạng còn chưa chặt chẽ và cũng có thể người bệnh chưa được hiểu biết đúng về bệnh lý, liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế xã hội đặc biệt ở những vùng sâu vùng xa, kiến thức y tế của người bệnh hay người nhà. Những vấn đề kinh tế xã hội này bao gồm khả năng tiếp cận kem chống nắng hạn chế, thiếu giáo dục về các biện pháp chống nắng, sự khác biệt về văn hóa trong cách ăn mặc, hạn chế tiếp cận các chuyên gia chăm sóc sức khỏe để giám sát dẫn đến phát hiện muộn và điều trị muộn, không thể tuân thủ hoặc hoàn thành các liệu trình điều trị. Ở những khu vực kinh tế xã hội thấp thường có sự kỳ thị và những người mắc bệnh bạch tạng có thể là nạn nhân của sự ngược đãi, thành kiến và bạo lực. 

Kết luận:

 Bệnh bạch tạng là một rối loạn di truyền tương đối phổ biến, ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan. Vì vậy, bệnh được nên được quản lý bởi đa chuyên khoa. Suy giảm thị lực là nguyên nhân chính gây tàn tật ở người bạch tạng. 

Trong khi đó ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) là bệnh ác tính phổ biến nhất ở bệnh bạch tạng, có thể làm tăng tỷ lệ tử vong của bệnh nhân so với dân số chung. Bệnh bạch tạng không thể chữa khỏi, vì vậy chúng ta cần tập trung vào việc chẩn đoán sớm và điều chỉnh các khiếm khuyết về thị giác cũng như thay đổi các yếu tố nguy cơ, dự phòng các nguy cơ và các tổn thương tiền ung thư, tiếp theo là phát hiện sớm và điều trị các khối u ác tính trên da. Tư vấn di truyền là cấn thiết không chỉ với người bệnh mà còn với cả cha mẹ, anh chị em ruột của họ.

Tài liệu tham khảo

1.     Hình ảnh lâm sàng, chẩn đoán và điều trị các bệnh trong chuyên ngành da liễu. Chủ biên: PGS. TS Nguyễn Văn Thường

2.     Albinism Justin R. Federico, Karthik Krishnamurthy3. OCA and SCC of the skin of the head and neck, J skin Cancer 2015: 167847 

Viết bài: TS.BS Nguyễn Hữu Quang, BSNT. Trần Thị Thu Huệ - Khoa PTTHTM và PHCN

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus) là một bệnh da viêm lành tính, hiếm gặp. Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các sẩn nhỏ, màu hồng, đỏ hoặc màu da, liên kết lại với nhau tạo thành một dải hoặc một vệt dài. Tổn thương điển hình phân bố dọc theo các đường Blaschko, là những đường vô hình trên da được cho là đại diện cho sự di cư của tế bào trong quá trình phát triển phôi thai.

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng là một tình trạng lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ trẻ tuổi, trưởng thành, bao gồm các sẩn viêm nhỏ và mụn mủ hoặc dát màu hồng, có vảy quanh miệng. Mặc dù vùng quanh miệng là vùng phân bố phổ biến nhất, bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt và quanh mũi.

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi là khối u lành tính có nguồn gốc từ phần phụ ở da. U ống tuyến mồ hôi biểu hiện sự biệt hóa ống dẫn đặc biệt phát sinh từ các tế bào ống dẫn mồ hôi, thường là eccrine.

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker được coi là một loại bớt thượng bì lành tính, khởi phát muộn. Các đặc điểm liên quan như phát triển quanh tuổi dậy thì, nam giới chiếm ưu thế, chứng rậm lông và tổn thương dạng mụn trứng cá gợi ý vai trò của androgen.

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce, được gọi là apocrine miliaria, là một rối loạn viêm da mãn tính hiếm gặp ảnh hưởng đến các tuyến apocrine, biểu hiện bằng các tổn thương sẩn ở các vùng như nách và hậu môn sinh dục. Được mô tả vào năm 1902 bởi George Henry Fox và John Addison Fordyce.

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota là một tổn thương sắc tố lành tính chủ yếu liên quan đến vùng phân bố của dây thần kinh sinh ba. Các nhánh thứ nhất và thứ hai của dây thần kinh sinh ba, cụ thể là nhánh mắt V1 và nhánh hàm trên V2 thường bị ảnh hưởng nhất. Có thể có tình trạng tăng sắc tố ở mắt liên quan. Bớt Ota còn được gọi là bệnh hắc tố ở da và mắt. Bớt Ito rất giống với bớt Ota ngoại trừ sự khác biệt về vị trí phân bố. Nó liên quan đến vị trí phân bố của các dây thần kinh bì cánh tay bên của vai và các dây thần kinh thượng đòn sau. Cả hai bệnh này đều có chung sinh lý bệnh học.

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố (pigmented purpuric dermatoses - PPD) còn được gọi là viêm mao mạch (capillaritis), ban xuất huyết đơn giản (purpura simplex) hoặc ban xuất huyết viêm không có viêm mạch (inflammatory purpura without vasculitis). Đây là một nhóm các tổn thương da mạn tính, lành tính, đặc trưng bởi ban xuất huyết không sờ thấy và tăng sắc tố da, hay gặp ở chi dưới. Việc nhận biết các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của bệnh da xuất huyết tăng sắc tố rất quan trọng để phân biệt với viêm mạch thực sự ở da và các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự.

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

dalieu.vn dalieu.vn