U nang nhày niêm mạc miệng (Oral mucocele)

Ngày đăng: 06/06/2025 bvdalieutrunguong

1. U nang nhày niêm mạc miệng là gì?

U nang nhày (Mucocele) là một tên gọi khác của kén niêm mạc (mucous cyst). U nang nhày hình thành khi chất nhày hoặc nước bọt thoát ra các mô xung quanh được bao quanh bằng lớp lót của mô hạt hoặc mô liên kết để tạo thành một khối u tròn, mềm, mịn chứa đầy dịch. Chúng thường xuất hiện ở bề mặt bên trong của môi dưới (75% trường hợp) nhưng cũng có thể xuất hiện ở sàn miệng (ranulae) hoặc trên lợi, niêm mạc má và lưỡi.

2. Nguyên nhân gây ra u nang nhày là gì?

 U nang nhày thường là kết quả của chấn thương ở miệng, làm tổn thương các ống dẫn nước bọt nhỏ dẫn đến sự tích tụ chất nhầy, nước bọt bên trong mô liên kết. Cắn môi hoặc hành động mút kéo niêm mạc môi dưới vào giữa các răng được cho là nguyên nhân phổ biến, điều này giải thích tại sao tổn thương thường xuất hiện ở môi dưới, đặc biệt là ở mức răng nanh. Thông thường, người bệnh cũng không biết mình đã bị tổn thương

Ngoài ra, một cơ chế nữa cũng được nhắc tới là hậu quả của tình trạng thu hẹp ống dẫn nước bọt, gây ra tình trạng nước bọt không được tiết hiệu quả bị giữ lại dẫn đến giãn ống dẫn nước bọt, cơ chế này ít gặp hơn nhiều.

3. Các dấu hiệu và triệu chứng của u nang nhày là gì?

U nang nhầy chủ yếu ảnh hưởng đến nam giới trong độ tuổi từ 20-30 do chấn thương, trong khi u nang nhầy do hẹp ống tiết chủ yếu ảnh hưởng đến người cao tuổi.

U nang nhày thường có hình vòm trong suốt, chứa đầy chất nhầy. Có thể xảy ra một hoặc nhiều tổn thương, đường kính từ 1-15 mm. Các tổn thương nông có màu trong mờ hoặc màu xanh lam do lớp biểu mô mỏng bao phủ các mao mạch. Các tổn thương sâu hơn thường có cùng màu với phần còn lại của môi vì chúng được bao phủ bởi một lớp mô dày hơn. Chảy máu vào tổn thương có thể khiến tổn thương có màu đỏ tươi và đôi khi có thể giống như u máu. Tổn thương thường có mật độ mềm, bề mặt nhẵn, di động. Đôi khi bề mặt của tổn thương có thể trở nên trắng, thô ráp và có vảy do thói quen mút nhiều lần vào tổn thương.

Hình 1: U nang ngày ở niêm mạc môi dưới (nguồn: internet)

Hình 1: U nang ngày ở niêm mạc môi dưới (nguồn: internet)

Hình 2: U nang nhày dưới lưới (nguồn: internet)

Hình 2: U nang nhày dưới lưới (nguồn: internet)

Trong hầu hết các trường hợp, tổn thương u nàng nhày nông có xu hướng kéo dài trong vài ngày hoặc vài tuần, tự vỡ (thường là khi ăn) và lành lại sau vài ngày vỡ. Tổn thương thường tái phát nhiều lần và có thể dẫn đến một tổn thương u vĩnh viễn ở bề mặt niêm mạc.

Tổn thương thường không đau nhưng có thể gây khó chịu. Trong một số trường hợp, khi biểu hiện nhiều tổn thương tái phát có thể gây đau.

4. Chẩn đoán phân biệt với u nang nhày?

Chẩn đoán phân biệt các khối u khác bao gồm: tuyến nước bọt phụ, kén thượng bì, dị dạng mạch, u máu, u xơ… cũng như các tổn thương khác của niêm mạc miệng

5. Chẩn đoán xác định u nang nhày như thế nào?

Chẩn đoán chủ yếu dựa trên lâm sàng: các dấu hiệu về đặc điểm tổn thương, vị trí, kích thước thay đổi, tiền sử chấn thương, xuất hiện nhanh chóng cần được xem xét trước khi đưa ra chẩn đoán xác định.

Có thể sinh thiết tổn thương để loại trừ các bệnh niêm mạc nghi ngờ khác. Trên mô bệnh học có thể thấy: tổn thương dạng nang được bao quanh bởi mô liên kết, các tế bào viêm, đại thực bào bọt. Nang chứa đầy mucin, một số tuyến nước bọt phụ.

Hình 3: Hình ảnh mô bệnh học nhuộm H&E cho thấy một u nang nhày được cắt bỏ hoàn toàn với chất nhày thoát ra ngoài và các tuyến nước bọt phụ đổ vào. (nguồn: internet)

Hình 3: Hình ảnh mô bệnh học nhuộm H&E cho thấy một u nang nhày được cắt bỏ hoàn toàn với chất nhày thoát ra ngoài và các tuyến nước bọt phụ đổ vào. (nguồn: internet)

 6. Phương pháp điều trị u nang nhày niêm mạc miệng là gì?

U nang nhày nông thường tự khỏi và không cần điều trị cụ thể. Nếu u nang nhày nông thường xuyên tái phát và gây ra vấn đề cho bệnh nhân hoặc trong trường hợp các tổn thương sâu hơn, điều trị là cần thiết. Các phương pháp điều trị bao gồm phẫu thuật cắt bỏ, áp lạnh, đốt laser, tiêm corticoid tổn thương, phẫu thuật dẫn lưu.

Với phương pháp phẫu thuật: là phương pháp được cho là triệt để nhất, việc cắt bỏ phải được thực hiện hết sức nhẹ nhàng để đảm bảo loại bỏ toàn bộ tổn thương mà không làm thủng túi nang. Nếu cắt bỏ phẫu thuật hoàn toàn với các tuyến nước bọt nhỏ liền kề, u nang nhày sẽ không tái phát.

Phẫu thuật dẫn lưu: phương pháp điều trị thay thế lý tưởng ở trẻ em vì nhanh chóng, đơn giản và cho kết quả tốt, với nguy cơ tái phát là 14%, dẫn lưu được tháo ra sau 7-10 ngày.

Laser CO2 thường được sử dụng cho những trường hợp tổn thương nhỏ hoặc phối hợp sau khi cắt bỏ hoàn toàn tổn thương, phù hợp với bệnh nhân trẻ em.

Áp lạnh, tiêm corticosteroid vào tổn thương có tỷ lệ tái phát cao

Chấn thương nhánh môi của dây thần kinh cằm là một cân nhắc quan trọng trong bất kỳ phẫu thuật nào ở niêm mạc môi dưới. Nguy cơ này tăng theo kích thước của u nhầy, do đó việc chẩn đoán sớm là rất quan trọng để có thể loại bỏ nó trong điều kiện tốt nhất có thể

 Tài liệu tham khảo:

1.     Bahadure RN, Fulzele P, Thosar N, Badole G, Baliga S. Conventional surgical treatment of oral mucocele: a series of 23 cases. European Journal of Paediatric Dentistry. 2012;13(2)

2.     Rao Prasanna Kumar, Hegde Divya, Shetty Shishir Ram, Chatra Laxmikanth, Shenai Prashanth. Review oral mucocele - diagnosis and management. Journal of Dentistry, Medicine and Medical Sciences. 2012;2(2):26–30.

3.     K U Nallasivam , B R Sudha. Oral mucocele: Review of literature and a case report. J Pharm Bioallied Sci. 2015 Aug;7(Suppl 2):S731–S733.

4.     Soukaina Essaket et al. Mucocèle de la muqueuse buccale. Pan Afr Med J. 2020 Apr 29;35:140.

Viết bài: THS.BS Nguyễn Mạnh Tân - Phòng chỉ đạo tuyến

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus) là một bệnh da viêm lành tính, hiếm gặp. Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các sẩn nhỏ, màu hồng, đỏ hoặc màu da, liên kết lại với nhau tạo thành một dải hoặc một vệt dài. Tổn thương điển hình phân bố dọc theo các đường Blaschko, là những đường vô hình trên da được cho là đại diện cho sự di cư của tế bào trong quá trình phát triển phôi thai.

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng là một tình trạng lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ trẻ tuổi, trưởng thành, bao gồm các sẩn viêm nhỏ và mụn mủ hoặc dát màu hồng, có vảy quanh miệng. Mặc dù vùng quanh miệng là vùng phân bố phổ biến nhất, bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt và quanh mũi.

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi là khối u lành tính có nguồn gốc từ phần phụ ở da. U ống tuyến mồ hôi biểu hiện sự biệt hóa ống dẫn đặc biệt phát sinh từ các tế bào ống dẫn mồ hôi, thường là eccrine.

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker được coi là một loại bớt thượng bì lành tính, khởi phát muộn. Các đặc điểm liên quan như phát triển quanh tuổi dậy thì, nam giới chiếm ưu thế, chứng rậm lông và tổn thương dạng mụn trứng cá gợi ý vai trò của androgen.

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce, được gọi là apocrine miliaria, là một rối loạn viêm da mãn tính hiếm gặp ảnh hưởng đến các tuyến apocrine, biểu hiện bằng các tổn thương sẩn ở các vùng như nách và hậu môn sinh dục. Được mô tả vào năm 1902 bởi George Henry Fox và John Addison Fordyce.

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota là một tổn thương sắc tố lành tính chủ yếu liên quan đến vùng phân bố của dây thần kinh sinh ba. Các nhánh thứ nhất và thứ hai của dây thần kinh sinh ba, cụ thể là nhánh mắt V1 và nhánh hàm trên V2 thường bị ảnh hưởng nhất. Có thể có tình trạng tăng sắc tố ở mắt liên quan. Bớt Ota còn được gọi là bệnh hắc tố ở da và mắt. Bớt Ito rất giống với bớt Ota ngoại trừ sự khác biệt về vị trí phân bố. Nó liên quan đến vị trí phân bố của các dây thần kinh bì cánh tay bên của vai và các dây thần kinh thượng đòn sau. Cả hai bệnh này đều có chung sinh lý bệnh học.

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố (pigmented purpuric dermatoses - PPD) còn được gọi là viêm mao mạch (capillaritis), ban xuất huyết đơn giản (purpura simplex) hoặc ban xuất huyết viêm không có viêm mạch (inflammatory purpura without vasculitis). Đây là một nhóm các tổn thương da mạn tính, lành tính, đặc trưng bởi ban xuất huyết không sờ thấy và tăng sắc tố da, hay gặp ở chi dưới. Việc nhận biết các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của bệnh da xuất huyết tăng sắc tố rất quan trọng để phân biệt với viêm mạch thực sự ở da và các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự.

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

dalieu.vn dalieu.vn