Thuốc sinh học điều trị vảy nến cho trẻ em

Ngày đăng: 23/09/2026 bvdalieutrunguong

Vảy nến là bệnh da viêm mạn tính qua trung gian miễn dịch, có thể khởi phát ngay từ lứa tuổi nhi khoa và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống, tâm lý – xã hội của trẻ.

1. Vảy nến trẻ em và thách thức trong điều trị

Vảy nến trẻ em có đặc điểm lâm sàng và diễn biến khác biệt so với người lớn, đồng thời việc lựa chọn thuốc điều trị toàn thân ở nhóm tuổi này luôn đòi hỏi cân nhắc kỹ giữa hiệu quả và độ an toàn lâu dài do trẻ còn trong giai đoạn phát triển. Trước đây, các thuốc toàn thân cổ điển thường được sử dụng nhưng tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ và thời gian dùng kéo dài. Sự ra đời của các thuốc sinh học nhắm đích vào những con đường viêm đặc hiệu (TNF-alpha, IL-12/23, IL-17) đã giúp thay đổi điều trị, đặc biệt sau khi một số thuốc được chấp thuận sử dụng cho trẻ em.

2. Thuốc sinh học trong điều trị vảy nến trẻ em

Mỗi loại thuốc sinh học có độ tuổi được phê duyệt và lịch tiêm duy trì khác nhau. Tại Việt Nam, các thuốc sau đã được Bộ Y tế thông qua cho chỉ định trên trẻ em:

Thuốc Nhóm cơ chế Tuổi chỉ định Liều tấn công Chu kỳ tiêm
Adalimumab Ức chế TNF-alpha Từ 4 tuổi (Châu Âu) Liều theo cân nặng  tiêm tại tuần 0 và 1 Tiêm dưới da 2 tuần/lần
Ustekinumab Ức chế IL-12/23 Từ 6 tuổi (FDA phê duyệt) Liều theo cân nặng tiêm tại tuần 0 và 4 Tiêm dưới da 12 tuần/lần
Secukinumab Ức chế IL-17A Từ 6 tuổi (FDA phê duyệt) Liều theo cân nặng tiêm tại tuần 0,1,2,3,4 Tiêm dưới da 4 tuần/lần

- Hyrimoz hiện chưa có chỉ định cho vảy nến ở trẻ em theo nhãn thuốc đã được phê duyệt (dù biệt dược gốc Humira có chỉ định này ở một số thị trường từ 4 tuổi).

- Guselkumab (Tremfya) vừa được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMA) phê duyệt bổ sung chỉ định cho trẻ em từ 6 tuổi vào cuối năm 2025 - đây là kháng thể kháng IL-23 đầu tiên có chỉ định cho trẻ em. Tuy nhiên, đây là thông tin quy định rất mới; nhãn thuốc Tremfya đã đăng ký lưu hành tại Việt Nam cần được xác nhận cập nhật trước khi áp dụng chỉ định này.

- Bên cạnh đó, các phân tử nhỏ đường uống như apremilast (ức chế phosphodiesterase 4) cũng đã được mở rộng chỉ định cho trẻ từ 6 tuổi, bổ sung thêm lựa chọn cho những trường hợp không phù hợp với liệu pháp tiêm. Tuy nhiên thuốc chưa có tại Việt Nam.

 3. Hiệu quả điều trị

Khả năng làm sạch tổn thương: So với trẻ dùng giả dược, trẻ được điều trị bằng thuốc sinh học có thể đạt được mức cải thiện bệnh cao hơn rõ rệt, bao gồm cả tỷ lệ đạt sạch gần hoàn toàn hoặc hoàn toàn tổn thương da. Các phân tích gộp cho thấy thuốc sinh học làm tăng đáng kể tỷ lệ đạt PASI 75/PASI 90 so với giả dược.

Tác dụng rõ rệt nhanh chóng: Thường chỉ sau 12 đến 16 tuần (khoảng 3–4 tháng) bắt đầu điều trị.

Cải thiện tâm lý và chất lượng cuộc sống: Vảy nến không chỉ gây tổn thương da mà còn gây ngứa ngáy, mất ngủ và khiến trẻ mặc cảm, tự ti trong sinh hoạt và học tập. Các nghiên cứu đo lường Chỉ số Chất lượng Cuộc sống Da liễu Trẻ em (CDLQI) cho thấy nhóm trẻ dùng thuốc sinh học có sự hồi phục tâm lý, cải thiện việc tham gia học tập và sinh hoạt vượt trội so với nhóm không được điều trị bằng thuốc sinh học.

Hình 1. Bệnh nhân nữ, 16 tuổi, Vảy nến thông thường điều trị tiêm Fraizeron 150mg tuần 0, 1, 2 Nguồn: Bệnh viện Da liễu Trung ương

Hình 1. Bệnh nhân nữ, 16 tuổi, Vảy nến thông thường điều trị tiêm Fraizeron 150mg tuần 0, 1, 2 Nguồn: Bệnh viện Da liễu Trung ương

4. Độ an toàn

- Tác động chọn lọc: Khác với các thuốc toàn thân cổ điển có thể ảnh hưởng rộng lên nhiều cơ quan, thuốc sinh học hoạt động theo cơ chế "nhắm trúng đích" - ức chế chọn lọc các phân tử gây viêm chủ chốt trong con đường miễn dịch của bệnh vảy nến.

- Hồ sơ an toàn: Các phân tích gộp trên hàng nghìn trẻ em cho thấy tỷ lệ gặp tác dụng phụ ở nhóm dùng thuốc sinh học không khác biệt có ý nghĩa so với nhóm dùng giả dược. Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là triệu chứng giống cảm cúm nhẹ hoặc phản ứng nhẹ tại vị trí tiêm.

- Cần lưu ý theo dõi nhiễm trùng trong quá trình điều trị và cập nhật đầy đủ lịch tiêm chủng trước khi bắt đầu thuốc.

 5. Kết luận

Thuốc sinh học đã và đang khẳng định vai trò là lựa chọn điều trị quan trọng cho vảy nến trung bình, nặng ở trẻ em, với hiệu quả kiểm soát tổn thương da cao và độ an toàn được ghi nhận qua nhiều thử nghiệm lâm sàng cũng như dữ liệu thực hành thực tế. Tuy nhiên, do các nghiên cứu dài hạn ở quần thể nhi khoa còn tương đối hạn chế so với người lớn, việc chỉ định cần được thực hiện bởi bác sĩ chuyên khoa da liễu, cân nhắc kỹ giữa lợi ích điều trị và các yếu tố an toàn lâu dài, kèm theo dõi sát trong suốt quá trình sử dụng thuốc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Firek A, Castelo-Soccio L. "Pediatric psoriasis: Biologics and oral small molecule inhibitors in modern therapy." JAAD Reviews, 2025;3:51-56.Aljalfan AA, et al. "Biologics for treatment of paediatric plaque psoriasis: A systematic review and network meta-analysis." Journal of the European Academy of Dermatology and Venereology, 2026.Sun HY, et al. "Biologics for pediatric psoriasis: A systematic review and meta-analysis." Pediatric Dermatology, 2022;39(1).Cai XC, et al. "Efficacy and Safety of Biological Agents for the Treatment of Pediatric Patients With Psoriasis: A Bayesian Analysis of Six High-Quality Randomized Controlled Trials." Frontiers in Immunology, 2022.Menter A, Cordoro KM, Davis DMR, et al. "Joint AAD-NPF Guidelines of Care for the Management and Treatment of Psoriasis in Pediatric Patients." Journal of the American Academy of Dermatology, 2020.Tờ Hướng dẫn sử dụng (Package Insert) Fraizeron® (secukinumab) 150 mg/ml, dạng bút tiêm đóng sẵn SensoReady. Novartis Pharma Stein AG, Feb 2022. 

Viết bài: BS. Trịnh Thị Linh, BSNT. Phan Tất Sỹ - Khoa Điều trị nội trú ban ngày

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn