Điều trị bệnh mũi sư tử tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Ngày đăng: 22/06/2016 Admin



Hình ảnh mũi sư tử được điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương (ảnh: BS. Phạm Cao Kiêm)

Lâm sàng

Mũi sư tử là một trong các dạng của trứng cá đỏ. Tuy nhiên, các biểu hiện khác của trứng cá đỏ có thể xuất hiện đồng thời hoặc không.

Mũi sư tử xảy ra ở nam giới nhiều hơn nữ giới.

Vị trí điển hình của mũi sư tử là ở đầu mũi. Các vị trí trí khác có thể có phì đại da và tuyến bã là mi mắt, trán, cằm.

Vùng thương tổn có màu da hoặc màu đỏ. Các mao mạch giãn rộng nổi rõ trên da, có màu tím. Thương ttổn đầu mũi nổi cao như củ tỏi. Có nhiều lỗ nhỏ, tiết bã, và có sẹo. Mũi bị biến dạng. Nhìn mũi rất xấu.
Nguyên nhân

Người ta không rõ nguyên nhân gây mũi sư tử. Tuy nhiên có hai giả thuyết về nguyên nhân gây mũi sư tử:

  • Các mạch máu lớn có thể làm dày tổ chức da.
  • Mạch máu không bền vững nên dịch dễ thấm vào tổ chức. Chất dịch này cuối cùng gây viêm và tạo sẹo.
Các mức độ phì đại mũi:

Độ I: nhiều miệng lỗ nang lông rộng, da không dày.

Độ II: nhiều miệng lỗ nang lông rộng, da dày trung bình.

Độ III: nhiều miệng lỗ nang lông rộng, da dày, tuyến bã tăng tiết qua mức và có u cục ở bờ.
Các phương pháp điều trị bệnh mũi sư tử tại Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Phục hồi chức năng – Bệnh viện Da liễu Trung ương -15A Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội:

  •  Nội khoa: bôi thuốc metronidazole, acid azelaic, retinoids, uống tetracyclin.
  • Ngoại khoa: mục tiêu của điều trị là nhằm cải thiện về thẩm mỹ cho bệnh nhân.
Các kỹ thuật ngoại khoa bao gồm: tái lập lại bề mặt da bằng cách gọt bỏ bề mặt thương tổn, bào da, áp lạnh, laser (CO2 , Argon, Nd:YAG, Er:YAG), đốt điện.

Tin bài và ảnh: BS. Phạm Cao Kiêm – Bệnh viện Da liễu Trung ương

Đăng bài: Phòng CNTT&GDYT


Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus)

Lichen thành dải (Lichen Striatus) là một bệnh da viêm lành tính, hiếm gặp. Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các sẩn nhỏ, màu hồng, đỏ hoặc màu da, liên kết lại với nhau tạo thành một dải hoặc một vệt dài. Tổn thương điển hình phân bố dọc theo các đường Blaschko, là những đường vô hình trên da được cho là đại diện cho sự di cư của tế bào trong quá trình phát triển phôi thai.

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Mày đay áp lực chậm (Delayed Pressure Urticaria)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng (Perioral Dermatitis)

Viêm da quanh miệng là một tình trạng lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ trẻ tuổi, trưởng thành, bao gồm các sẩn viêm nhỏ và mụn mủ hoặc dát màu hồng, có vảy quanh miệng. Mặc dù vùng quanh miệng là vùng phân bố phổ biến nhất, bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt và quanh mũi.

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi (Syringoma)

U ống tuyến mồ hôi là khối u lành tính có nguồn gốc từ phần phụ ở da. U ống tuyến mồ hôi biểu hiện sự biệt hóa ống dẫn đặc biệt phát sinh từ các tế bào ống dẫn mồ hôi, thường là eccrine.

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker (Becker’s Nevus)

Bớt Becker được coi là một loại bớt thượng bì lành tính, khởi phát muộn. Các đặc điểm liên quan như phát triển quanh tuổi dậy thì, nam giới chiếm ưu thế, chứng rậm lông và tổn thương dạng mụn trứng cá gợi ý vai trò của androgen.

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce (Apocrine miliaria)

Bệnh Fox-Fordyce, được gọi là apocrine miliaria, là một rối loạn viêm da mãn tính hiếm gặp ảnh hưởng đến các tuyến apocrine, biểu hiện bằng các tổn thương sẩn ở các vùng như nách và hậu môn sinh dục. Được mô tả vào năm 1902 bởi George Henry Fox và John Addison Fordyce.

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota và bớt Ito (Nevus of Ota and Ito)

Bớt Ota là một tổn thương sắc tố lành tính chủ yếu liên quan đến vùng phân bố của dây thần kinh sinh ba. Các nhánh thứ nhất và thứ hai của dây thần kinh sinh ba, cụ thể là nhánh mắt V1 và nhánh hàm trên V2 thường bị ảnh hưởng nhất. Có thể có tình trạng tăng sắc tố ở mắt liên quan. Bớt Ota còn được gọi là bệnh hắc tố ở da và mắt. Bớt Ito rất giống với bớt Ota ngoại trừ sự khác biệt về vị trí phân bố. Nó liên quan đến vị trí phân bố của các dây thần kinh bì cánh tay bên của vai và các dây thần kinh thượng đòn sau. Cả hai bệnh này đều có chung sinh lý bệnh học.

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố

Bệnh da xuất huyết tăng sắc tố (pigmented purpuric dermatoses - PPD) còn được gọi là viêm mao mạch (capillaritis), ban xuất huyết đơn giản (purpura simplex) hoặc ban xuất huyết viêm không có viêm mạch (inflammatory purpura without vasculitis). Đây là một nhóm các tổn thương da mạn tính, lành tính, đặc trưng bởi ban xuất huyết không sờ thấy và tăng sắc tố da, hay gặp ở chi dưới. Việc nhận biết các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của bệnh da xuất huyết tăng sắc tố rất quan trọng để phân biệt với viêm mạch thực sự ở da và các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự.

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Hạt fordyce (Fordyce spot)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

Ngứa mãn tính ở người cao tuổi (Chronic pruritus (CP) in the Elderly)

dalieu.vn dalieu.vn