Các bộ tiêu chuẩn chẩn đoán Lupus ban đỏ hệ thống

Ngày đăng: 29/09/2026 bvdalieutrunguong

Lupus ban đỏ hệ thống (SLE) là bệnh tự miễn mạn tính, biểu hiện đa cơ quan và thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, khoảng 9:1. Không có một xét nghiệm đơn lẻ khẳng định chắc chắn mọi trường hợp. Vì vậy, phân loại SLE dựa trên phối hợp biểu hiện lâm sàng và các dấu ấn miễn dịch.

 Cộng đồng y khoa thế giới hiện đang áp dụng ba bộ tiêu chuẩn chẩn đoán chính, bao gồm:

- Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR) năm 1997

- Tiêu chuẩn của Nhóm Cộng tác Quốc tế về Lupus (SLICC) năm 2012

- Tiêu chuẩn đồng thuận của ACR và Liên đoàn Chống Thấp khớp Châu Âu (ACR/EULAR) năm 2019 – bộ tiêu chuẩn mới nhất và toàn diện nhất hiện nay.

 ACR 1997 dùng quy tắc đếm 4 trong 11

• ACR 1997 gồm 11 biểu hiện. Người bệnh được chẩn đoán SLE khi có ít nhất 4/11 tiêu chí, xuất hiện riêng rẽ hoặc đồng thời trong bất kỳ thời điểm nào.

1. Ban đỏ ở má: ban phẳng hoặc gồ trên gò má, có thể lan qua sống mũi. 7. Tổn thương thận: protein niệu dai dẳng > 0,5 g/24 giờ hoặc có trụ tế bào.
2. Ban dạng đĩa: hồng ban gồ, vảy sừng bám chắc, bít tắc nang lông; tổn thương cũ có thể để sẹo teo. 8. Tổn thương thần kinh: động kinh hoặc loạn thần sau khi loại trừ nguyên nhân khác.
3. Nhạy cảm ánh sáng: ban xuất hiện hoặc nặng lên sau tiếp xúc ánh sáng mặt trời. 9. Rối loạn huyết học: thiếu máu tan máu, giảm bạch cầu, giảm lympho hoặc giảm tiểu cầu.
4. Loét miệng/mũi/họng, thường không đau. 10. Rối loạn miễn dịch: anti-dsDNA, anti-Sm hoặc kháng phospholipid dương tính.
5. Viêm khớp không bào mòn ở ≥ 2 khớp ngoại biên. 11. ANA dương tính với hiệu giá bất thường
6. Viêm thanh mạc: viêm màng phổi hoặc màng ngoài tim.  

• Hạn chế chính: độ nhạy khoảng 83-93%; quy tắc 4/11 có thể bỏ sót bệnh giai đoạn sớm hoặc người bệnh đã có tổn thương cơ quan rõ nhưng chưa đủ bốn tiêu chí.

Hình 1. Ban đỏ hình cánh bướm.

Hình 1. Ban đỏ hình cánh bướm.

Hình 2. ANA HEp-2 dương tính hình thái Cytoplasmic 3+.

Hình 2. ANA HEp-2 dương tính hình thái Cytoplasmic 3+.

SLICC 2012 mở rộng thành 17 tiêu chí

  • SLICC 2012 được xây dựng để giảm bỏ sót những trường hợp sớm hoặc đã có tổn thương cơ quan nặng nhưng không đạt 4 tiêu chí ACR.
  • Bộ tiêu chuẩn gồm 17 tiêu chí, chia thành hai nhóm: 11 tiêu chí lâm sàng và 6 tiêu chí miễn dịch/cận lâm sàng.
Screenshot 2026-09-29 100400
  • Ưu điểm: độ nhạy khoảng 97%, cao hơn ACR 1997.
  • Hạn chế: độ đặc hiệu khoảng 84-90%; mở rộng tiêu chí có thể làm tăng nguy cơ phân loại nhầm ở người có bệnh tự miễn khác hoặc ANA dương tính kèm triệu chứng không đặc hiệu.

ACR/EULAR 2019 chuyển sang điểm trọng số

  • Bước 1 – Điều kiện bắt buộc: ANA ≥ 1:80 trên tế bào HEp-2 tại bất kỳ thời điểm nào trong bệnh sử.
  • Bước 2 - Tính điểm trong 10 nhóm: 7 nhóm lâm sàng và 3 nhóm miễn dịch. Trong mỗi nhóm, chỉ lấy tiêu chí có điểm cao nhất; không cộng các biểu hiện trùng trong cùng nhóm.
  • Bước 3 – Chẩn đoán xác định khi có đồng thời: ANA ≥ 1:80, ít nhất 1 tiêu chí lâm sàng và tổng điểm ≥ 10.
Hình 3. Ba điều kiện cốt lõi của ACR/EULAR 2019

Hình 3. Ba điều kiện cốt lõi của ACR/EULAR 2019

Screenshot 2026-09-29 095957

ACR/EULAR 2019 cân bằng độ nhạy và độ đặc hiệu

  • Điểm mới quan trọng là ANA trở thành tiêu chuẩn đầu vào thay vì một tiêu chí ngang hàng với các biểu hiện khác.
  • Hệ điểm trọng số phản ánh mức độ đặc hiệu khác nhau của từng biểu hiện; tổn thương thận nặng có thể đạt 8-10 điểm, trong khi sốt chỉ 2 điểm.
  • Độ nhạy 96,1% và độ đặc hiệu 93,4%, giúp cân bằng tốt hơn giữa ACR 1997 và SLICC 2012.
  • Các tiêu chí không bắt buộc xuất hiện cùng lúc; điểm có thể tích lũy theo diễn tiến bệnh. Vì vậy, hệ ACR/EULAR 2019 hỗ trợ nhận diện sớm những trường hợp có biểu hiện đặc hiệu cao.

 Ba bộ tiêu chuẩn cần được hiểu theo đúng cách

  • ACR 1997 dễ nhớ: đếm 11 tiêu chí và đạt mốc 4/11.
  • SLICC 2012 mở rộng lên 17 tiêu chí, tăng độ nhạy nhưng có thể giảm độ đặc hiệu.
  • ACR/EULAR 2019 là hệ thống khác hẳn: phải đạt tiêu chuẩn đầu vào ANA, sau đó tính điểm trọng số và đạt ≥ 10 điểm với ít nhất một biểu hiện lâm sàng.
  • Ba bộ tiêu chuẩn giúp hệ thống hóa đánh giá SLE; trong thực hành, kết quả vẫn cần được đặt trong bối cảnh lâm sàng của từng người bệnh.

 Tài liệu tham khảo chính

1. Hochberg MC. Updating the American College of Rheumatology revised criteria for the classification of systemic lupus erythematosus. 1997.

2. Petri M, Orbai AM, Alarcón GS, et al. Derivation and validation of the SLICC classification criteria for systemic lupus erythematosus. 2012.

3. Aringer M, Costenbader K, Daikh D, et al. 2019 EULAR/ACR Classification Criteria for Systemic Lupus Erythematosus.

Viết bài: Ths.BS Lê Thị Xuân, BSNT Nguyễn Thị Thanh Hiền - Khoa Điều trị nội trú ban ngày

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn