Chuyên mônKhoa PTTM & Phục hồi chức năngUng thư da

Ung thư tế bào vảy dương vật


     Ở Mỹ và các nước Phương Tây tỷ lệ ung thư dương vật từ 0,4 – 0,6% các bệnh ác tính. Ở các vùng khác như châu Phi, châu Á, và Nam Mỹ tỷ lệ ung thư dương vật từ 20% – 30% so với các bệnh ung thư ở nam giới.

     Ung thư dương vật vẫn thường gặp ở Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư dương vật ở Hà Nội là 2,1/100.000 dân, ở Thành phố Hồ Chí Minh là 3,4% các loại ung thư [1],[2].
1. Đặc điểm lâm sàng ung thư dương vật

     Thương tổn có biểu hiện lâm sàng là một tổ chức nổi cao trên mặt da, sần sùi, màu đỏ, có vảy, mật độ chắc, phát triển và xâm lấn gây cụt dương vật.

     Hai thể lâm sàng gồm sùi và loét. Thương tổn sùi thường đơn độc hoặc nhiều thương tổn kết hợp với nhau, nổi cao và sần sùi. Ung thư dương vật thể sùi thường ở quy đầu và bao quy đầu, hiếm khi ở thân dương vật. Thể sùi thường biểu hiện như một khối súp lơ, có mùi thối và có thể loét, hoặc trong một số trường hợp nó giống như một cục sừng. Cuối cùng thương tổn dạng này tiến triển tới hoại tử và loét.

     Thể loét không những phát triển rộng theo bề mặt mà còn xâm lấn sâu xuống tổ chức phía dưới. Thương tổn thường nhỏ, nông, loét hình tròn, hơi nổi cao và có nền cứng [3].
2. Đặc điểm cận lâm sàng

     – MRI, siêu âm, và CT.

     – Positron emission tomography (PET scan) có thể cung cấp bằng chứng sớm của di căn.

     – Giải phẫu bệnh: Giải phẫu bệnh giúp cho chẩn đoán bệnh và góp phần đánh giá mức độ xâm lấn của khối u [3],[1],[4].

3. Vấn đề chẩn đoán

     Chẩn đoán quyết định dựa vào mô bệnh học, chẩn đoán di căn dựa vào mô bệnh học và MRI, CT, PET – CT.
4. Các phương pháp điều trị

     Điều trị P.SCC chủ yếu bằng phẫu thuật (vét hạch bẹn và cắt cụt dương vật), các điều trị bổ trợ bao gồm xạ trị, hóa chất đơn độc hoặc kết hợp với phẫu thuật [2],[1].

4.1. Vét hạch bẹn

      Vét hạch bẹn

     Từ năm 1932 Ducuing khẳng định rằng phải phẫu thuật vét hạch bẹn thành một khối cùng với tổ chức mỡ xung quanh và phải tiến hành ở cả hai bẹn thì mới đảm bảo [3].

     Vét hạch chậu 

     Có thể vét hạch chậu ở ngoài hoặc trong phúc mạc, nhưng thường là ngoài phúc mạc. Các hạch cần loại bỏ là hạch chậu ngoài, chậu trong, chậu gốc và có một số trường hợp lấy cả hạch xung quanh động mạch chủ và cuống thận.
4.2. Phẫu thuật khối ung thư dương vật

     – Cắt bỏ thương tổn tại chỗ: thương tổn nhỏ nông ở quy đầu hoặc thương tổn có đường kính < 2 cm ở thân dương vật, phẫu thuật cách mép u 2 cm, và kiểm soát diện cắt tức thì. Quy đầu có thể được được phủ bằng da thân dương vật [5].

     – Cắt bao quy đầu: thương tổn nhỏ ở phần xa quy đầu, không xâm lấn sâu có thể cắt cách bờ 2 cm. Nếu cắt không đủ rộng thì tỷ lệ tái phát là 40%.

     – Cắt quy đầu được chỉ định cho P.SCC thể sùi tại quy đầu [6],[7].

     – Nếu cắt cách mép thương tổn rộng hơn 1,5 cm cho tỷ lệ tái phát là 50%. Cắt bỏ thương tổn cách bờ 2 cm là cần thiết để giảm tái phát.

     – Theo Bùi Mạnh Hà thì diện cắt cách bờ 1,5 cm cho T1 không còn ung thư, diện cắt cách bờ 1,5 cm cho T2 còn 2,1% ung thư,  diện cắt cách bờ 2 cm thì T2 hết ung thư nhưng T3 còn 2,9% ung thư và T4 còn 14,3% ung thư [3].

     – Cắt một phần dương vật được chỉ định cho ung thư dương vật mức độ thấp (độ I, T1-T2) chiếm gần hết quy đầu hoặc 1/3 xa thân dương vật.

     – Cắt toàn bộ dương vật khi ung thư ở gần gốc dương vật hoặc khi ung thư tiến triển (độ II-III, T3-T4) [8].

     – Cắt bỏ toàn bộ dương vật và bìu: khi P.SCC xâm lấn gốc dương vật có chỉ định cắt bỏ toàn bộ bộ phận sinh dục ngoài và vét hạch bẹn hai bên (dương vật, bìu và 2 tinh hoàn) [3].
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Hoàng Minh (2010). Ung thư dương vật. Điều trị phẫu thuật bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y Học, 427 – 436.

2. Đoàn Hữu Nghị (2001). Ung thư dương vật. Bài giảng ung thư dương vật. Bộ môn Ung thư Trường Đại học Y Hà Nội, 200 – 205.

3. Bùi Mạnh Hà (2001). Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học ung thư dương vật và đánh giá kết quả sống 5 năm sau điều trị phẫu thuật. Luận án tiến sĩ Y học, Học viện Quân Y 103.

4. Phạm Cao Kiêm (2012). Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy dương vật. Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội.

5. Palminteri E, Berdondini E, Lazzeri M, Mirri F, Barbagli G (2007). Resurfacing and reconstruction of the glans penis. Eur Urol., 52(3), 893 – 898.

6. Davis JW,   Schellhammer PF (2001). Glansectomy: an alternative surgical treatment for Buschke-Lowenstein tumours of the penis. BJU Int., 88(6), 647.

7. Hatzichristou DG, Apostolidis A, Tzortzis V, Hatzimouratidis K, Ioannides E, Yannakoyorgos K (2001). Glansectomy: an alternative surgical treatment for Buschke-Löwenstein tumors of the penis. Urology, 57(5), 966 – 9.

8. Korets R,  Koppie TM, Snyder ME, Russo P (2007). Partial penectomy for patients with squamous cell carcinoma of the penis: the Memorial Sloan-Kettering experience. Ann Surg Oncol., 14(12), 3614 – 9.

 Tin bài: BS. Phạm Cao Kiêm
Đăng tin: Phòng CNTT&GDYT