Xơ cứng bì khu trú và hội chứng Parry-Romberg: hai biểu hiện trong cùng một phổ bệnh?
1. Tổng quan
Pemphigoid bọng nước (Bullous Pemphigoid - BP) là một bệnh da bọng nước tự miễn mạn tính, thường gặp ở người cao tuổi. Bệnh xảy ra do sự xuất hiện của các tự kháng thể tấn công vào các protein cấu trúc ở vùng màng đáy của da, cụ thể là BP180 và BP230, dẫn đến việc hình thành các bọng nước căng, lớn trên nền da lành kèm theo ban đỏ, ngứa.
Phương pháp điều trị truyền thống thường dựa vào sử dụng corticoid đường uống hoặc bôi tại chỗ liều cao, kết hợp với các thuốc ức chế miễn dịch cổ điển như Azathioprine, Mycophenolate Mofetil, Methotrexate. Tuy nhiên, việc sử dụng corticoid kéo dài ở bệnh nhân lớn tuổi thường gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng như đái tháo đường, loãng xương, nhiễm trùng, tăng huyết áp.... Chính vì vậy, các thuốc sinh học nổi lên như một giải pháp nhắm trúng đích, mang lại hiệu quả cao và giúp giảm thiểu việc phụ thuộc vào corticoid và qua đó giảm các tác dụng phụ không mong muốn.
2. Các thuốc sinh học trong điều trị Pemphigoid bọng nước
Các thuốc sinh học điều trị BP hiện nay được chia theo các nhóm cơ chế tác động chính: nhắm vào tế bào B (nguồn gốc sản sinh tự kháng thể), nhắm vào các Cytokine viêm (IL-4/IL-13, IL-17, IL-5), và nhắm vào kháng thể IgE hoặc hệ thống bổ thể.
2.1 Thuốc kháng CD20 (Nhắm vào tế bào B)
Rituximab
Tế bào lympho B là nơi sản sinh ra các tự kháng thể kháng BP180 và BP230. Việc tiêu diệt các tế bào này giúp ngăn chặn tận gốc quá trình sinh bệnh.
- Phác đồ Thấp khớp: Truyền tĩnh mạch 2 liều (mỗi liều 1000 mg), cách nhau 2 tuần.
- Phác đồ Ung thư: Truyền tĩnh mạch 4 liều (mỗi liều 375 mg/m2 diện tích cơ thể), mỗi tuần một lần trong 4 tuần liên tiếp.
2.2 Thuốc kháng Interleukin (Nhắm vào con đường viêm Th2 và Th17)
Quá trình viêm trong BP có sự tham gia rất lớn của các cytokine thuộc phân nhóm tế bào T hỗ trợ (Th2 và Th17), gây huy động các tế bào bạch cầu đến thực bào và làm tổn thương màng đáy.
Dupilumab (Kháng IL-4/IL-13)
Benralizumab / Mepolizumab (Kháng IL-5 / Thụ thể IL-5)
2.3 Thuốc tác động vào hệ thống bổ thể hoặc kháng thể
Bên cạnh việc ức chế các Cytokine viêm, các nhà khoa học hiện nay đang tập trung vào việc ngăn chặn trực tiếp các phản ứng phá hủy màng đáy do bổ thể gây ra, hoặc tác động lên các kháng thể IgG hoặc IgE. Tuy nhiên hiệu quả điều trị của phương pháp này vẫn còn đang tranh cãi, cần phải nhiều nghiên cứu thêm.
Avdoralimab
Omalizumab (Kháng IgE)
Efgartigimod
3. Kết luận
Sự ra đời của các thuốc sinh học đã mở ra một chương mới trong quản lý và điều trị bệnh pemphigoid bọng nước. Thay vì ức chế miễn dịch toàn thân một cách không chọn lọc như corticoid hay các thuốc ức chế miễn dịch cổ điển, thuốc sinh học nhắm trúng đích vào các mắt xích miễn dịch chuyên biệt (như Rituximab đánh vào tế bào B, Dupilumab đánh vào IL-4/IL-13, hay Omalizumab đánh vào IgE). Sự thay đổi này không chỉ nâng cao tỷ lệ lui bệnh mà còn giảm thiểu đáng kể các tác dụng phụ đe dọa tính mạng ở đối tượng bệnh nhân lớn tuổi.
Hiện nay, Bệnh viện Da liễu Trung ương đã triển khai áp dụng thành công các phác đồ điều trị bằng thuốc sinh học cho bệnh nhân pemphigoid bọng nước. Phương pháp tiên tiến này đã chứng minh được hiệu quả kiểm soát bệnh vượt trội và độ an toàn cao, đặc biệt là trên những trường hợp bệnh nhân kháng trị với phác đồ cổ điển hoặc có nhiều bệnh lý nền phức tạp.
Bệnh nhân và người nhà nếu có tổn thương nghi ngờ hoặc đang gặp khó khăn trong quá trình điều trị pemphigoid bọng nước nên đến thăm khám trực tiếp tại Bệnh viện Da liễu Trung ương. Tại đây, các bác sĩ chuyên khoa đầu ngành sẽ tiến hành các xét nghiệm chuyên sâu (như sinh thiết, miễn dịch huỳnh quang) và đánh giá toàn diện để tư vấn phác đồ cá thể hóa phù hợp nhất.
Tài liệu tham khảo
1.Chebani R, Lombart F, Chaby G, Dadban A, Debarbieux S, Viguier MA, et al. Omalizumab in the treatment of bullous pemphigoid resistant to first-line therapy: a French national multicentre retrospective study of 100 patients. Br J Dermatol. 2024;190(2):258–65.
2. Murrell DF, Joly P, Werth VP, Ujiie H, Worm M, Mangold AR, et al. Study design of a phase 2/3 randomized controlled trial of dupilumab in adults with bullous pemphigoid: LIBERTY-BPADEPT. Adv Ther. 2024;41(7):2991–3002.
3. Liu Z, Giudice GJ, Swartz SJ, Fairley JA, Till GO, Troy JL, et al. The role of complement in experimental bullous pemphigoid. J Clin Invest. 1995;95(4):1539–44.
4. Passeron T, Fontas E, Boye T, Richard MA, Delaporte E, Dereure O. Treatment of bullous pemphigoid with avdoralimab: multicenter, randomized, open-labeled phase 2 study. JID Innov. 2024;4(6):100307.
5. Schmidt E, Sticherling M, Sardy M, Eming R, Goebeler M, Hertl M, et al. S2k guidelines for the treatment of pemphigus vulgaris/ foliaceus and bullous pemphigoid: 2019 update. J Dtsch Dermatol Ges. 2020;18(5):516–26.
Viết bài: BS.CKI Dương Thị Thúy Quỳnh - Khoa Bệnh da Tự miễn và Vảy nến
Đăng bài: Phòng Công tác xã hội
Sáng sớm: 6h30 - 7h30
Buổi sáng: 7h30 - 12h30
Buổi chiều: 13h30 - 16h30
Ngày T7, CN và ngày lễ:Buổi sáng: 7h30 - 12h00
Buổi chiều: 14h - 17h30