Những điều cần biết về U lympho da
1. Đặt vấn đề
Mày đay (urticaria) được định nghĩa là sự xuất hiện của sẩn phù hoặc phù mạch hoặc cả hai. Dựa trên thời gian diễn biến của bệnh, cơ chế bệnh sinh mày đay được chia thành các thể: mày đay viêm mạch, mày đay cấp tính và mày đay mạn tính. Mày đay mạn tính (MĐMT) được xác định khi thời gian diễn biến bệnh kéo dài trên 6 tuần.


Mặc dù chưa có phương pháp điều trị nào có thể chữa khỏi bệnh mày đay mạn tính và tất cả các lựa chọn điều trị hiện được khuyến nghị đều nhằm mục đích kiểm soát và ngăn ngừa các triệu chứng của bệnh. Tuy nhiên, mày đay mạn tính hiếm khi là dấu hiệu của bệnh lý tiềm ẩn nghiêm trọng và cũng rất ít khi kéo dài vĩnh viễn, khoảng 50% bệnh nhân sẽ thuyên giảm trong vòng một đến ba năm và chỉ khoảng 14% còn triệu chứng sau 5 năm. Trong các thuốc được khuyến cáo thì thuốc kháng histamine H1 thế hệ thứ hai (AH1) là liệu pháp hàng đầu (liều chuẩn) và liệu pháp hàng thứ hai (liều caocủa bệnh).
Chính vì vậy bệnh nhân cần được điều trị lâu dài, thường xuyên theo phác đồ của bác sĩ. Việc tự ý dùng thuốc đặc biệt là các thuốc không nằm trong khuyến cáo điều trị kéo dài trong một thời gian dài do không kiểm soát được bệnh có thể là yếu tố nguy cơ cho sức khỏe của người bệnh.
Mày đay mạn tính hiếm khi là dấu hiệu của bệnh lý tiềm ẩn nghiêm trọng và cũng rất ít khi kéo dài vĩnh viễn. Khoảng 50% bệnh nhân sẽ thuyên giảm trong vòng một đến ba năm, và chỉ khoảng 14% còn triệu chứng sau 5 năm.
1. Giới thiệu trường hợp ca bệnh
Bệnh nhân Hoàng Thị T, sinh năm 1978 là bệnh nhân mắc bệnh mày đay trên 20 năm từ năm 2001. Thời gian đầu chị tự mua thuốc tại hiệu thuốc về điều trị tại nhà thuốc nhưng không có hiệu quả, sau đó chị nghe theo lời khuyên của nhiều người không có chuyên môn, với tâm lý nhanh chóng chữa khỏi bệnh chị đã tự mua nhiều loại thuốc về sử dụng và có tiêm corticoid, uống thuốc nam không rõ nguồn gốc, thuốc bổ gan và nhiều loại thuốc khác... Trong thời gian đó chị đã gặp phải một số tác dụng phụ không mong muốn như rong kinh, đau đầu, mất ngủ…làm chị phải đi khám chuyên khoa Sản phụ khoa ảnh hưởng rất nhiều đến công việc và chất lượng cuộc sống, chị thường xuyên bị mất ngủ vàvà thường xuyên bị stress. Tuy nhiên bệnh cũng không khỏi và sau đó chị thường xuyên uống cách ngày một loại thuốc gì đó theo cách hiểu của chị là dập cho nó không lên nữa mà không biết đó chính là tính chất của bệnh.
Trưởng hợp của bệnh nhân T cho thấy việc bệnh nhân không hiểu rõ về bệnh, tâm lý nôn nóng muốn khỏi bệnh nhanh mà chị T đã dùng nhiều loại thuốc đã gây cho chị một số tác dụng phụ không mong muốn. tức thì cũng có thể có nguy cơ tiềm ẩn những biến chứng lâu dài hoặc tác dụng phụ nhưTrong số các thuốc chị tự mua về sử dụng có một loại thuốc mặc dù có tác dụng dập nhanh các triệu chứng của mày đay dẫn đến chị dễ bị phụ thuộc thuốc là corticoid nhưng nếu dùng lâu dài thuốc này sẽ đem lại rất nhiều tác dụng phụ đáng lo ngại bao gồm:
Hơn nữa việc bệnh nhân dùng thuốc thường xuyên kéo dài trên hai mươi năm cũng gây ra ảnh hưởng đến công việc và chất lượng cuộc sống cũng như có thể ảnh hưởng cả đến kinh tế của bệnh nhân một cách không cần thiết.
2. Lời khuyên cho bệnh nhân mày đay mạn tính
3. Kết luận.
Trường hợp bệnh nhân trên là lời cảnh báo cho mỗi người dân trong chăm sóc sức khỏe bản thân nói chung, với tất cả các bệnh không riêng mày đay khi phát hiện các triệu chứng cần đến khám tại cơ sở y tế đáng tin cậy theo đúng chuyên khoa.
Không tự ý mua thuốc và dùng thuốc không theo phác đồ chuyên môn dẫn đến nguy cơ gây biến chứng lâu dài hoặc tác dụng phụ tức thì ảnh hưởng đển sức khỏe, kinh tế của bản thân và gia đình.
Cần hiểu và nắm rõ về bệnh của mình để có thể dùng thuốc và thực hiện chế độ ăn cũng như tuân thủ điểu trị để mang lại hiệu quả cao.
Tài liệu tham khảo
1. Zuberbier,T. The international EAACI/GA2LEN/EuroGuiDerm/APAAACI guideline for the definition, classification, diagnosis, and management of urticaria -. Allergy 77, 734–766 (2022).
Gonçalo, M. et al. The global burden of chronic urticaria for the patient and society. Br. J. Dermatol. 184, 226–236 (2021).3. Magen, E., Mishal, J., Zeldin, Y. & Schlesinger, M. Clinical and laboratory features of antihistamine-resistant chronic idiopathic urticaria. Allergy Asthma Proc. 32, 460–466 (2011).
Viết bài: TS. BS. Vũ Nguyệt Minh - Phòng khám chuyên đề Mày đay và mày đay mạn tính
Đăng bài: Phòng Công tác xã hội
Sáng sớm: 6h30 - 7h30
Buổi sáng: 7h30 - 12h30
Buổi chiều: 13h30 - 16h30
Ngày T7, CN và ngày lễ:Buổi sáng: 7h30 - 12h00
Buổi chiều: 14h - 17h30