Viêm da tiếp xúc ở công nhân xây dựng sử dụng áo có quạt thông gió - Một đường phơi nhiễm ít được chú ý

Ngày đăng: 20/10/2026 bvdalieutrunguong

 1.  Lời giới thiệu chung

Hai công nhân xây dựng cùng có nhiều năm làm nghề, sử dụng bảo hộ lao động là găng tay, ủng và áo có quạt thông gió khi làm việc, nhưng vẫn xuất hiện viêm da kéo dài. Tổn thương viêm da ở bàn tay, các chi và thân mình, kết hợp phản ứng test áp dương tính với cobalt và potassium dichromate, gợi ý vai trò của các dị nguyên nghề nghiệp trong xây dựng. Điểm đáng chú ý là chiếc áo gắn quạt thông gió được sử dụng với mục đích bảo hộ và làm mát. Do vậy, trong môi trường làm việc nhiều bụi, liệu quạt thông gió được thiết kế ngay trên lưng áo có thể đưa tác nhân viêm da nghề nghiệp vào bên trong áo khiến vùng da được che kín vẫn tiếp tục phơi nhiễm hay không? Hai trường hợp dưới đây cho thấy chúng ta cần tìm hiểu về vấn đề này. 

2.  Tổng quan về viêm da tiếp xúc trong nghề xây dựng

Công nhân xây dựng thường xuyên tiếp xúc với xi măng, vữa và nhiều vật liệu có khả năng gây kích ứng hoặc dị ứng da. Bệnh biểu hiện bằng dát đỏ, sẩn, mụn nước và ngứa. Khi tình trạng viêm da kéo dài có thể dẫn đến khô, bong vảy, dày da, nứt và thay đổi sắc tố. Xi măng có thể tham gia vào cả hai cơ chế kích ứng và dị ứng. Tính kiềm của xi măng kết hợp sự cọ xát của các hạt vật liệu làm tổn thương hàng rào bảo vệ da; trong khi chromate và cobalt có trong xi măng có thể gây dị ứng ở người đã mẫn cảm. Vì vậy, hai cơ chế này có thể cùng góp phần gây tổn thương ở một người bệnh [1,2]. Test áp với potassium dichromate và cobalt giúp xác định tình trạng mẫn cảm với các dị nguyên này. Tuy nhiên, để xác định chúng có liên quan đến bệnh hiện tại hay không, cần đối chiếu kết quả test với bối cảnh và vật liệu người bệnh thực sự tiếp xúc, vị trí thương tổn da và diễn biến bệnh.

3.   Giới thiệu hai ca bệnh

Trường hợp thứ nhất, bệnh nhân nữ 54 tuổi, làm phụ hồ khoảng 20 năm, đến khám vì tổn thương da kèm ngứa kéo dài khoảng một năm. Bệnh khởi đầu bằng các mụn nước nhỏ ở hai bàn tay, sau đó lan ra bụng và chân. Bệnh nhân đã bôi dưỡng ẩm và corticosteroid nhưng cải thiện ít. Khi làm việc, người bệnh sử dụng găng tay vải và ủng. Trong khoảng một năm gần đây, bệnh nhân bắt đầu mặc áo điều hòa có quạt thông gió. Ngoài công việc xây dựng, người bệnh còn trồng lúa và có tiếp xúc với thuốc trừ sâu. Ảnh lâm sàng ghi nhận tổn thương dạng chàm tại bàn tay, các chi và thân mình, kèm khô da và thay đổi sắc tố.

Hình 1. Bệnh nhân nữ có viêm da bàn tay và dát đỏ 2 bên cẳng tay

Hình 1. Bệnh nhân nữ có viêm da bàn tay và dát đỏ 2 bên cẳng tay

Hình 2. Áo bảo hộ có hai cụm quạt phía lưng của bệnh nhân nữ.

Hình 2. Áo bảo hộ có hai cụm quạt phía lưng của bệnh nhân nữ.

Test áp cobalt (dị nguyên số 07) và dichromate (dị nguyên số 26) đều dương tính 1+ ở hai lần đọc kết quả. 

Hình 3: Hỉnh ảnh kết quả test áp đọc ngày 2 và ngày 4 cho thấy dương tính với dị nguyên số 7 (Cobalt) và số 26 (Potassium dichromate)

Hình 3: Hỉnh ảnh kết quả test áp đọc ngày 2 và ngày 4 cho thấy dương tính với dị nguyên số 7 (Cobalt) và số 26 (Potassium dichromate)

Trong thời gian điều trị theo đơn thuốc, bệnh nhân vẫn tiếp tục mặc áo có quạt. Tổn thương thân mình giảm, nhưng tổn thương tại tay, chân và mặt chưa cải thiện rõ.

Ca bệnh thứ hai là bệnh nhân nam sinh năm 1960, làm nghề xây dựng hơn 20 năm, đến khám vì tổn thương da và ngứa ở tay, chân, thân mình. Bệnh diễn biến khoảng hai năm, khởi đầu bằng dát đỏ và các mụn nước nhỏ ở hai bàn tay, sau đó lan rộng. Đợt bệnh gần đây diễn biến khoảng hai tháng. Người bệnh tự sử dụng thuốc bôi không rõ loại, giảm ngứa nhưng tổn thương cải thiện ít. Bệnh nhân thường dùng găng tay vải và ủng, đồng thời bắt đầu mặc áo thông gió khoảng hai tháng trước khi khám. Bệnh nhân có thương tổn da dạng chàm ở bàn tay, cẳng tay, cổ, thân mình và chân kèm khô da, dày da, tăng sắc tố và các vết cào gãi. Kết quả test áp của bệnh nhân nam cũng có phản ứng với cobalt và potassium dichromate. 

Hình 5. Bệnh nhân nam có viêm da dạng chàm tại bụng, cẳng chân và vùng cổ chân.

Hình 5. Bệnh nhân nam có viêm da dạng chàm tại bụng, cẳng chân và vùng cổ chân.

Hình 6. Vùng lưng bệnh nhân nam trước và sau một tuần điều trị.

Hình 6. Vùng lưng bệnh nhân nam trước và sau một tuần điều trị.

Sau khám, bệnh nhân điều trị theo đơn, ngừng áo thông gió và giãn cách các buổi làm việc. Ngứa giảm và tổn thương cải thiện.

4. Bàn luận

Hai dị nguyên phù hợp với bối cảnh nghề nghiệp

Sự tương đồng về nghề nghiệp, tổn thương bàn tay và kết quả test áp củng cố khả năng có nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp chung. Đối với chromate, nguồn cần ưu tiên khảo sát là xi măng và vữa chứa xi măng. Người làm phụ hồ có thể tiếp xúc khi mở bao, trộn, vận chuyển hoặc thao tác với vật liệu. Các công đoạn này phù hợp với tổn thương tại bàn tay và cẳng tay.

Cobalt được ghi nhận trong nhiều mẫu xi măng, nhưng lượng kim loại tổng chưa phản ánh đầy đủ lượng ion có thể giải phóng và tiếp xúc da [2]. Cần khảo sát loại xi măng thực tế trước khi xác định nguồn gây bệnh. Nếu người bệnh tham gia công đoạn khác, có thể mở rộng khai thác sơn, vật liệu có sắc tố và dụng cụ đang sử dụng, tốt nhất là dựa trên thành phần sản phẩm được ghi trên nhãn nếu có.

Nghiên cứu ở công nhân xi măng ghi nhận mẫn cảm chromate hoặc cobalt liên quan với các vấn đề da và viêm da mu bàn tay [3]. Hai phản ứng ở các ca này có sự phù hợp về nghề và vị trí tổn thương và theo hướng đồng mẫn cảm hơn là dị ứng chéo. Thâm niên làm nghề dài không loại trừ mẫn cảm xuất hiện muộn, nhất là khi hàng rào da bị tổn thương do phơi nhiễm lặp lại.

Chiếc áo có quạt và khả năng phơi nhiễm dưới lớp bảo hộ

Tổn thương bàn tay có thể được giải thích bằng tiếp xúc trực tiếp. Sự hiện diện của tổn thương thân mình khiến bệnh sử cần mở rộng tới trang phục. Một giả thuyết đáng chú ý là quạt đưa không khí mang bụi công trường vào khoảng trống giữa áo và da, khiến tác nhân tiếp xúc tới những vùng vốn được che kín. Bụi bám mặt trong áo hoặc bộ phận quạt cũng có thể tạo cơ hội tiếp xúc lặp lại khi mặc tiếp. Theo cơ chế này, áo có thể tham gia vận chuyển tác nhân nghề nghiệp tới da, dù bản thân vải áo không nhất thiết chứa dị nguyên. Đây là nguy cơ khó nhận biết: trang phục vẫn che phủ cơ thể, nhưng mức bảo vệ còn phụ thuộc vào luồng khí, khả năng lọc và tình trạng nhiễm bẩn. Giả thuyết chưa được xác nhận bằng phân tích bụi hoặc khảo sát dòng khí. Việc phơi nhiễm tác nhân từ bàn tay, quần áo nhiễm bẩn và chàm lan rộng cũng cần được cân nhắc kiểm tra.

Diễn biến sau điều chỉnh phơi nhiễm

Ở bệnh nhân nữ, tổn thương còn tồn tại tại một số vị trí khi tiếp tục mặc áo. Ở bệnh nhân nam, bệnh cải thiện sau khi ngừng áo cùng điều trị và giảm số buổi làm việc. Diễn biến gợi mở vai trò của việc rà soát bảo hộ nhưng cần khảo sát thêm để tách biệt được tác động riêng của áo. Test áp phát hiện mẫn cảm, còn xác định ý nghĩa hiện tại cần đối chiếu nguồn phơi nhiễm thực tế [4]. Với hai ca bệnh này, sự phù hợp lâm sàng với kết quả test áp giúp hướng tới mối liên quan giữa việc sử dụng áo bảo hộ lao động có gắn quạt thông gió với đợt bệnh da hiện tại. 

5.  Điều trị và dự phòng

Điều trị cần kết hợp kiểm soát viêm da với giảm phơi nhiễm. Khi đã sử dụng bảo hộ nhưng bệnh vẫn kéo dài, cần hỏi cụ thể loại găng, ủng, áo, cách vận hành và vệ sinh sau mỗi buổi làm việc. Với xi măng ướt, cần găng chống thấm phù hợp chất kiềm; găng vải đơn thuần chưa bảo đảm mức bảo vệ này. Hạn chế để vật liệu lọt vào găng, ủng và quần áo, đồng thời làm sạch trang phục nhiễm bẩn [1]. Với áo có quạt, cần đánh giá vị trí hút khí, khả năng lọc bụi và hướng dẫn sử dụng tại công trường. Khi nghi liên quan bệnh, việc đổi trang phục cần kèm giải pháp giảm nóng phù hợp và kiểm soát bụi tại nguồn. Theo dõi với ảnh chuẩn hóa, mức ngứa và diễn biến tổn thương giúp đánh giá đáp ứng.

6.   Kết luận

Hai ca bệnh nhấn mạnh rằng đánh giá bảo hộ cần đi sâu vào cách thiết bị hoạt động trong môi trường thực tế. Kết quả test áp với cobalt và potassium dichromate có sự phù hợp với nghề xây dựng, trong khi áo có quạt đặt ra khả năng tiếp xúc bụi tại vùng da được che kín. Một chiếc áo giúp người lao động dễ chịu hơn khi làm việc vẫn cần được đánh giá về khả năng bảo vệ da trước tác nhân nghề nghiệp.

Tài liệu tham khảo

1. Health and Safety Executive. Skin. https://www.hse.gov.uk/construction/faq-skin.htm.

2. Goh CL, Kwok SF, Gan SL. Cobalt and nickel content of Asian cements. Contact Dermatitis. 1986 Sep;15(3):169-72. doi: 10.1111/j.1600-0536.1986.tb01319.x. PMID: 2946537.

3. Guo YL, Wang BJ, Yeh KC, Wang JC, Kao HH, Wang MT, Shih HC, Chen CJ. Dermatoses in cement workers in southern Taiwan. Contact Dermatitis. 1999 Jan;40(1):1-7. doi: 10.1111/j.1600-0536.1999.tb05968.x. PMID: 9928797.

4. Uter W, Aerts O, Agner T, Brans R, Bruze M, Cannavó A, Crépy MN, Giménez-Arnau AM, Gonçalo M, Goossens A, John SM, Lidén C, Hadžavdić SL, Mahler V, Matura M, Özkaya E, Pesonen M, Raison-Peyron N, Rustemeyer T, Spiewak R, Stingeni L, White IR, Wilkinson SM, Johansen JD. European Society of Contact Dermatitis Guideline for Diagnostic Patch Testing-Recommendations on Best Practice (Update 2026). Contact Dermatitis. 2026 Sep;95(3):237-275. doi: 10.1111/cod.70195. Epub 2026 Jun 21. PMID: 42324086; PMCID: PMC13441402.

Viết bài: TS. BS. Trịnh Minh Trang – Phòng khám Viêm da tiếp xúc dị ứng và bệnh da nghề nghiệp

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn