Cập nhật chuyên mônChuyên mônĐào tạo

Rụng tóc kiểu hói nữ (FPHL)

 Rụng tóc kiểu hói nữ là một tình trạng bệnh khá biến trong dân số, gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Mặc dù không gây ra đau đớn về thể chất, tình trạng này có thể ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của người mắc.  “Răng tóc là góc con người”. Tóc góp phần quan trọng đến vẻ đẹp và ngoại hình chung, bản sắc xã hội và lòng tự tin của phụ nữ. Một nghiên cứu dựa trên bảng câu hỏi cho thấy 70% phụ nữ bị rụng tóc kiểu hói nữ cho biết họ cảm thấy tự ti về ngoại hình, chất lượng cuộc sống thấp hơn so với nhóm chứng. Thậm chí có tỉ lệ không nhỏ phụ nữ biểu hiện trầm cảm. Điều này đặc biệt thấy rõ ở phụ nữ trẻ mắc rụng tóc kiểu hói nữ.

Cho tới nay, việc kiểm soát tình trạng này còn gặp nhiều khó khăn đối với các bác sỹ da liễu, không có phương pháp điều trị đặc hiệu. Quá trình điều trị đòi hỏi bệnh nhân có sự tuân thủ, hợp tác lâu dài. Nhận biết sớm tình trạng rụng tóc, chẩn đoán kịp thời và bắt đầu điều trị sớm có thể cải thiện bệnh ở một số phụ nữ.

Dịch tễ

Hiện nay ở Việt nam, chưa có số liệu thống kê chính xác tỉ lệ rụng tóc kiểu hói ở nữ giới. Tuy nhiên các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy, rụng tóc ở phụ nữ khá phổ biến, ảnh hưởng đến gần 50% phụ nữ ở các độ tuổi khác nhau. Người ta ước tính rằng 21 triệu phụ nữ ở Hoa Kỳ có biểu hiện của rụng tóc kiểu hói. Các nghiên cứu từ một số quốc gia khác nhau đã báo cáo tỷ lệ hiện mắc trong khoảng từ 1% đến 12% ở độ tuổi từ 20 đến 29 tuổi và từ 12% đến 56% ở phụ nữ trên 70 tuổi. Mặc dù tóc rụng tóc ở phụ nữ tăng theo độ tuổi. Tình trạng này thường phổ biến hơn ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, song nhiều phụ nữ trẻ cũng bị rụng tóc. Các khảo sát cho thấy nhu cầu điều trị rụng tóc ở phụ nữ từ 25 đến 40 tuổi là rất lớn.

Sinh bệnh học

Sinh lý bệnh cơ bản của rụng tóc kiểu hói nữ vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Bệnh được cho là sự kết hợp của nhiều yếu tố: di truyền, nội tiết tố và môi trường. Rụng tóc kiểu hói nữ được đặc trưng bởi sự giảm thời gian của giai đoạn phát triển của chu kỳ tóc (anagen) và do sự chậm trễ trong việc bắt đầu một giai đoạn phát triển mới từ giai đoạn ngừng phát triển (telogen). Mặc dù tên gọi là chứng rụng tóc nội tiết tố nam (AGA), rụng tóc kiểu hói nữ không liên quan đến việc tăng nồng độ androgen trong hầu hết các trường hợp. Rụng tóc kiểu hói xảy ra ở phụ nữ trẻ có thể liên quan đến hội chứng cường androgen, nhưng phần lớn bệnh nhân rụng tóc kiểu hói nữ không có dấu hiệu của bệnh cường androgen hoặc có nồng độ nội tiết tố androgen cao.

Một số bằng chứng cho thấy các biến thể di truyền của thụ thể androgen (AR) đóng một vai trò trong hói đầu ở nam giới, song điều này ít được xác định cụ thể trong rụng tóc kiểu hói nữ. Một nghiên cứu cho thấy rằng phụ nữ rụng tóc kiểu hói có mức AR và 5-α-reductase cao hơn ở các nang tóc ở trán và chẩm so với những người không có rụng tóc kiểu hói nữ.

Biểu hiện lâm sàng

Các dấu hiệu lâm sàng của rụng tóc kiểu hói nữ có thể khác nhau ở mỗi bệnh nhân. Nhiều phụ nữ phàn nàn về sự rụng tóc của họ hoặc nhận thấy tóc mỏng, thưa dần và da đầu lộ rõ. Rụng tóc kiểu hói nữ được đặc trưng bởi sự giảm mật độ tóc ở vùng đỉnh đầu. Tóc ở vùng rụng mảnh hơn, ngắn hơn. Có sự giảm dần tỷ lệ của các sợi tóc trưởng thành và các sợi tơ do quá trình thu nhỏ của nang tóc. Đây là một dạng rụng tóc không sẹo, thường bệnh nhân không bị hói đầu hoàn toàn như rụng tóc kiểu hói nam. Các thể rụng tóc kiểu hói nữ:

  • Thể Ludwig: là thể đặc trưng chính của rụng tóc kiểu hói nữ . Biểu hiện bởi sự mỏng mật độ tóc lan tỏa của phần đỉnh đầu, giữ nguyên tóc ở đường chân tóc phía trán. Mức độ nặng được đánh giá theo thang điểm 3 hoặc 5 điểm (Sinclair)

Phân loại rụng tóc kiểu hói theo Ludwig

(Nguồn: E Ludwig et al)

  • Kiểu cây thông noel: thể này tình trạng rụng tóc ưu thế ở phía trước
  • Kiểu Hamiton: thể này hình thái rụng tóc gần giống rụng tóc kiểu hói nam, ưu thế ở vùng trán- thái dương, ảnh hưởng đến đường chân tóc

BN nữ, 40 tuổi, rụng tóc kiểu hói nữ thể Ludwig. BN nhận thấy tình trạng tóc thưa, sợi mảnh dần phần đỉnh đầu từ năm 32 tuổi

(Nguồn : Bs Quách Thị Hà Giang)

Bệnh nhân cần được khai thác kỹ về tiền sử, bệnh sử để có thể tìm được các nguyên nhân có thể gây rụng tóc.

Cận lâm sàng

  • Một số xét nghiệm cần làm: công thức máu, chức năng tuyến giáp, định lượng feritin, ANA, …
  • Sàng lọc hội chứng buồng chứng đa nang, hội chứng chuyển hóa
  • Mô bệnh học: ít được sử dụng trên thực tế do đây là một phương pháp xâm lấn . Trên mô bệnh học có hình ảnh nhiều nang tóc ở pha thoái triển, nang tóc giảm kích thước gần như teo hoàn toàn. Tóc chuyển thành sợi mảnh, sợi tóc ngắn, giảm đường kính.
  • Trichoscopy: đây là công cụ không xâm lấn được dùng để chẩn đoán bệnh tại Bệnh viện Da liễu trung ương

Một số dấu hiện trên trichoscopy đặc hiệu nhất ở vùng trán đỉnh: chấm vàng, đường kính sợi tóc đa dạng, tăng tỉ lệ tóc tơ, mất sắc tố quanh nang tóc…

Bảng 1: Tiêu chuẩn chẩn đoán rụng tóc kiểu hói nữ trên trichoscopy

 

Tiêu chuẩn chính Tiêu chuẩn phụ

Tỉ lệ vùng trán: vùng chẩm

4 chấm vàng trên 4 vi trường (độ phóng đại 70 lần) ở vùng trán Tỉ lệ sợi tóc đơn độc >2:1
 Đường kính tóc vùng trán nhỏ hơn ở vùng chẩm Tỉ lệ tóc tơ >1,5:1
Tỉ lệ tóc tơ >10% ở vùng trán (<0,03mm) Mất sắc tố quanh nang tóc >3:1
Chẩn đoán rụng tóc kiểu hói nữ khi có 2 tiêu chuẩn chính hoặc 1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ

 

Chẩn đoán phân biệt

  • Rụng tóc ở giai đoạn ngừng phát triển của tóc
  • Rụng tóc từng mảng lan tỏa
  • Tật nhổ tóc…

 Điều trị

Minoxidil

Hiện tại minoxidil là phương pháp điều trị duy nhất được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép sử dụng trong rụng tóc kiểu hói nữ Minoxidil. Hiện tại ở Việt nam đang được lưu hàng dưới dạng xịt, hoặc dạng bọt với các các nồng độ minoxidil 2%, 3% và minoxidil 5%. Cơ chế hoạt động chính xác của nó chưa rõ ràng. Minoxidil kéo dài giai đoạn anagen của chu kỳ tóc bằng cách tạo ra sự chuyển đổi từ sợi telogen sang sợi tóc anagen.

Một số nghiên cứu cho thấy, sự cải thiện mọc tóc khi dùng dung dịch minoxidil nồng độ 2% và 5% như nhau, tuy nhiên khi dùng dung dịch 5% có tác dụng không mong muốn như viêm da tiếp xúc, đau đầu, rậm lông nhiều hơn 2%. Rậm lông là tác dụng không mong muốn rất đáng lưu ý ở nữ giới, do đó dung dịch minoxidil 2% hay được sử dụng hơn.

Chất ức chế 5-α-reductase

Chất ức chế 5-α-reductase được FDA chấp thuận để điều trị rụng tóc kiểu hói ở nam giới. Đối với rụng tóc kiểu hói ở nữ, kết quả từ một số nghiên cứu không kiểm soát đánh giá hiệu quả finasteride rất khác nhau, với liều 2,5 mg hoặc 5 mg mỗi ngày cho thấy có thể hiệu quả ở cả phụ nữ trước và sau mãn kinh.  Cần có biện pháp tránh thai cho phụ nữ chưa mãn kinh khi dùng finasteride vì đây là chất gây quái thai,nữ hóa bào thai nam khi dùng trong thời kỳ mang thai.

Chất kháng androgen

Spironolactone là một chất đối kháng cạnh tranh yếu trong sự kết nối giữa androgen với receptor và làm giảm sự tổng hợp testostron. Chất kháng androgen đã được sử dụng “off-label” trong điều trị mụn trứng cá, rậm lông và rụng tóc kiểu hói ở nữ. Một số nghiên cứu nhỏ sử dụng spironolactone ở bệnh nhân rụng tóc kiểu hói ở nữ đã cho kết quả khả quan. Spironolactone là một chất gây quái thai, không nên dùng cho phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú. Nên sử dụng biện pháp tránh thai trong khi dùng thuốc này.

*Các phương pháp điều trị khác đã được nghiên cứu về rụng tóc kiểu hói ở nữ bao gồm các chất tương tự prostaglandin tại chỗ, estrogen tại chỗ và liệu pháp ánh sáng, laser công suất thấp, mesotherapy. Hiện tại, bằng chứng cho thấy hiệu quả của các biện pháp này còn hạn chế.

Trang điểm

Sử dụng các phương pháp thẩm mỹ để che các vùng tóc thưa cũng được đề cập nhiều trong thời gian gần đây. Biện pháp xăm màu đã được sử dụng trong một nghiên cứu trên 23 phụ nữ bị rụng tóc kiểu hói ở nữ. Các tác giả báo cáo rằng bệnh nhân có kết quả khá tốt mà không có tác dụng phụ hoặc biến chứng. Các phương pháp khác có thể được sử dụng để che vùng rụng tóc như sợi sắc tố, bột màu, chì màu, nối tóc, chất làm dày thân tóc và tóc giả.

Kết luận

Phụ nữ bị rụng tóc kiểu hói bị ảnh hưởng nhiều tới chất lượng sống. Tình trạng bệnh cần được chẩn đoán và sớm kết hợp các biện pháp điều trị để nâng cao hiệu quả điều trị . Bác sỹ da liễu nên thảo luận với bệnh nhân về các mục tiêu điều trị và tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị để đạt được kết quả .

Bài viết: BSCKII Quách Thị Hà Giang

Đăng bài: Phòng CTXH

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Văn Thường, Bệnh học Da liễu tập 3, 2017, Nhà xuất bản Y học
  2. Ramos PM, Miot HA. Female pattern hair loss: a clinical and pathophysiological review. An Bras Dermatol. 2015;90:529-543.
  3. https://www.medscape.org/viewarticle/853686_4
  4. Lucky AW, Piacquadio DJ, Ditre CM, et al. A randomized, placebo-controlled trial of 5% and 2% topical minoxidil solutions in the treatment of female pattern hair loss. J Am Acad Dermatol. 2004;50:541-553
  5. Torres F, Tosti A. Trichoscopy: an update. G Ital Dermatol Venereol. 2014;

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *