Bệnh viện Da liễu TWChuyên môn

Retinoid trong điều trị lão hoá da do ánh sáng

Posted

Lão hoá da do ánh sáng là tình trạng thường gặp trên lâm sàng với biểu hiện là các nếp nhăn, sự thay đổi sắc tố da và giãn mạch. Retinoid là tên gọi chung của vitamin A (retinol) và các dẫn xuất có cấu trúc hoặc chức năng tương tự vitamin A, được sử dụng nhiều để điều trị bệnh này. Tác dụng của Retinoid bôi đã được cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận. Tuy nhiên hiện nay các nhà lâm sàng đang tiếp tục nghiên cứu hiệu quả của Retinoid uống trong bệnh này.

 RETINOID TRONG ĐIỀU TRỊ LÃO HOÁ DA DO ÁNH SÁNG

1.ĐẠI CƯƠNG

Lão hoá da do ánh sáng (photoaging) đặc trưng bởi phản ứng viêm mãn tính với tia UV, biểu hiện là nếp nhăn, thay đổi sắc tố và giãn mạch. Trong đó UVA có vai trò quan trọng trong việc gây lão hoá da, đặc biệt là nó có thể xuyên qua cửa kính thông thường. Chính vì vậy, chúng ta có thể dự phòng lão hoá da do ánh sáng bằng cách sử dụng kem chống nắng thường xuyên, mặc quần áo, khẩu trang, tránh ra ngoài vào thời gian có nhiều tia UV..

Retinoid là tên gọi chung của vitamin A (retinol) và các dẫn xuất có cấu trúc hoặc chức năng tương tự vitamin A. Retinoid được chia làm 3 thế hệ với 2 dạng bôi và uống.

2.HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ LÃO HOÁ DA DO ÁNG SÁNG CỦA RETINOID BÔI

Tretinoiin và tarazoten đã được FDA công nhận hiệu quả trong điều trị lão hoá da do ánh sáng, giúp cải thiện nếp nhăn nhỏ và làm sáng da. Cơ chế của thuốc là thúc đẩy sự biệt hoá tế bào và tổng hợp chất nền ngoại bào (tăng hyaluranic acid…)

Sau khoảng 3-6 tháng bôi liên tục retinoid hàng ngày sẽ thấy tác dụng của thuốc. Tuy nhiên hiệu quả của thuốc có thể mất nếu bệnh nhân ngừng sử dụng. Một số tác giả cho rằng bệnh nhân có thể dùng retinoid kéo dài với nồng độ thấp và giảm tần suất bôi. Mô bệnh học cho thấy, sau khi bôi retinoid, lớp sừng nén chặt, tăng sản lớp gai, phân tán hạt melanin, tăng collagen và mạch máu. Chính vì vậy, da bệnh nhân sẽ căng mịn, hồng hào, đồng đều màu và giảm nếp nhăn.

Bệnh nhân nên được bắt đầu bôi từ nồng độ thấp để hạn chế tác dụng kích ứng của thuốc. Tác dụng phụ: cảm giác bỏng rát, đỏ, ngứa và khô, chính vì vậy không nên sử dụng thuốc đồng thời với các sản phẩm gây kích ứng tại chỗ. Chưa có khuyến cáo rõ ràng về sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú.

.

              Hiệu quả điều trị lão hoá da do ánh sáng bằng bôi tretinoin 0,05%

A: trước điều trị, B: sau 24 tháng

Tretinoin 0,025% và 0,05% được coi là tiêu chuẩn vàng cho điều trị lão hoá da do ánh sáng. Một số nghiên cứu cho thấy rằng tazarotene 0,1% có hiệu quả tương đương tretinoin 0,05% và cho cải thiện nhanh hơn. Một nghiên cứu năm 2017 so sánh hiệu quả của tretinoin 0,05%  và adapalene 0,3% cho thấy hiệu quả tương đương trong điều trị lão hoá da trong 24 tuần.

3.HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ LÃO HOÁ DA DO ÁNH SÁNG CỦA RETINOID UỐNG.

Retinoid uống có nhiều thế hệ nên được sử dụng trong nhiều bệnh khác nhau như: trứng cá, vảy nến, U lympho T tại da…Thuốc được chống chỉ định tuyệt đối với phụ nữ có thai và cho con bú. Một số chống chỉ định tương đối khác là: giảm bạch cầu,  tăng mỡ máu mức độ trung bình và nặng, rối loạn chức năng gan, thận, suy giáp, ý tưởng tự sát.. Tác dụng phụ của thuốc: dị tật thai nhi, khô da, môi, bong vảy, rụng tóc…

Một số tác giả thấy rằng khi điều trị trứng cá cho bệnh nhân bằng isotretinoin uống, da bệnh nhân không những cải thiện tình trạng mụn mà còn mềm, sáng và hồng hào hơn. Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu về hiệu quả điều trị lão hoá da do ánh sáng của retinoid uống được thực hiện. Nghiên cứu đầu tiên được công bố năm 2000 cho thấy có sự cải thiện trên lâm sàng của nhóm uống isotretinoin liều thấp ( 10-20 mg/ngày trong 3 ngày/tuần trong 2 tháng) so với nhóm không can thiệp.

Nghiên cứu tại Brazil 2008 trên 30 bệnh nhân nữ chia làm 2 nhóm. Nhóm 1 uống 10mg isotretinoin 3 lần/ tuần trong 3 tháng và nhóm 2 uống isotretinoin với liều 20 mg với cùng phác đồ trên. Kết quả cho thấy trên lâm sàng, các bệnh nhân đều cải thiện nếp nhăn, màu sắc và cầu trúc da. Trên mô bệnh học, số lượng collagen đều tăng và giảm chất thoái hoá của elastin. Tuy nhiên sự khác biệt của 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê.

Hiệu quả điều trị lão hoá da do ánh sáng bằng uống isotretinoin 20mg trên lâm sàng và mô bệnh học

a: trước điều trị, b: sau 3 tháng

 

Nghiên cứu năm 2015 trên 20 bệnh nhân dùng isotretinoin 20 mg/ ngày, 3 lần/ tuần trong 12 tuần và tiếp tục theo dõi bệnh nhân sau khi ngừng thuốc 12 tuần. Tác giả thấy được đều có sư cải thiện trên lâm sàng và mô bệnh học. Kết quả cao nhất đạt được sau khi uống 12 tuần và vẫn duy trì sự cải thiện sau khi dừng thuốc 12 tuần.

Nghiên cứu năm 2010, tác giả chia 32 bệnh nhân ra làm 2 nhóm. Nhóm 1 gồm 21 bệnh nhân uống isotretinon 20 mg/ ngày, 3 ngày/ tuần trong vòng 3 tháng kết hợp thêm bôi kem dưỡng ẩm và kem chống nắng. Nhóm 2 gồm 11 bệnh nhân chỉ dùng kem dưỡng ẩm và kem chống nắng. Kết quả cho thấy sự khác biệt 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu so sánhhiệu quả của retinoid uống và bôi trong điều trị lão hoá da năm 2013. Tất cả 24 bệnh nhân đều được dùng kem dưỡng ẩm và kem chống nắng. Trong 6 tháng, một nhóm gồm  12 người uống isotretinoin 20 mg/ ngày, một nhóm bôi retinoid 0,05% bôi hàng ngày. Kết quả cho thấy nhóm uống isotretinoin không hiệu quả hơn nhóm bôi retinoid 0,05% trong điều trị lão hoá da do ánh sáng.

4.KẾT LUẬN

Trong điều trị lão hoá da do ánh sáng, tác dụng của Retinoid uống không cao hơn Retinoid bôi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hernandez-Perez E., Khawaja H.A., and Alvarez T.Y. (2000). Oral isotretinoin as part of the treatment of cutaneous aging. Dermatol Surg, 26(7), 649–652.
  2. Rabello-Fonseca R.M., Azulay D.R., Luiz R.R., et al. (2009). Oral isotretinoin in photoaging: clinical and histopathological evidence of efficacy of an off-label indication. J Eur Acad Dermatol Venereol, 23(2), 115–123.
  3. Bagatin E., Guadanhim L.R.S., Enokihara M.M.S.S., et al. (2014). Low-dose oral isotretinoin versus topical retinoic acid for photoaging: a randomized, comparative study. Int J Dermatol, 53(1), 114–122.
  4. Bravo B.S.F., Azulay D.R., Luiz R.R., et al. (2015). Oral isotretinoin in photoaging: objective histological evidence of efficacy and durability. An Bras Dermatol, 90(4), 479–486.
  5. Bagatin E., Gonçalves H. de S., Sato M., et al. (2018). Comparable efficacy of adapalene 0.3% gel and tretinoin 0.05% cream as treatment for cutaneous photoaging. Eur J Dermatol, 28(3), 343–350.

Bài viết: BSNT Trịnh Thị Linh

Đăng bài: Phòng CTXH.