Bệnh da liễu

Quản lý và điều trị viêm khớp vảy nến

 
L. Gossec1, J.S. Smolen2

 

 1Sorbonne Universités, UPMC Univ Paris 06, Institut Pierre Louis d’Epidémiologie et de Santé Publique, GRC-UPMC 08 (EEMOIS); AP-HP, Pitié Salpêtrière Hospital, Department of Rheumatology, Paris, France;
2Division of Rheumatology, Department of Medicine 3, Medical University of Vienna, and 2nd Department of Medicine, Hietzing Hospital, Vienna, Austria.


 
Key words: psoriatic arthritis, recommendations, management,

disease-modifying anti-rheumatic drugs, EULAR

 

 

TÓM TẮT
Khuyến cáo về quản lý điều trị viêm khớp vảy nến đang được phát triển bởi mấy nhóm chuyên gia. Những khuyến cáo này chủ yếu hướng dẫn các liệu pháp điều trị bằng thuốc. Trên thế giới, hiện đang có hai hướng dẫn điều trị viêm khớp vảy nến (Psoriasis Arthritis – PsA), một được phát triển bởi Nhóm các nhà nghiên cứu và đánh giá về Vảy nến và Viêm khớp vảy nến năm 2009 (Group for Re­search and Assessment of Psoriasis and Psoriatic Arthritis – GRAPPA) và hướng dẫn còn lại được phát triển bởi Hiệp hội Phòng chống Bệnh khớp Châu Âu năm 2012 (European League against Rheuma­tism – EULAR). Những hướng dẫn này hiện vẫn đang được tiếp tục chỉnh sửa, cập nhật. Nhóm các thuốc chống viêm non-steroid, glucocorticoid, luôn bắt đầu tại các bản hướng dẫn, sau đó lần lượt đến các thuốc điều trị bệnh khớp tổng hợp truyền thống và  thuốc ức chế yếu tố hoại tử u; Những khuyến cáo năm 2015 cũng hướng dẫn đối với các thuốc mới có cơ chế hoạt động khác như ustekinumab, secukinumab và apremilast.
Giới thiệu

Quản lý viêm khớp vảy nến (PsA) được chia thành các phương pháp trong đó có sử dụng thuốc và không sử dụng thuốc. Đóng vai trò chính của phương pháp sử dụng thuốc là các thuốc điều trị khớp (Disease-Modify­ing Anti-Rheumatic Drugs – DMARDs). Có 3 nhóm thuốc điều trị khớp chính, phân nhóm dựa vào cơ chế hoạt động: Nhóm 1) Các thuốc tổng hợp truyền thống (conventional synthetic – csDMARD) như methotrexate, sulfasalazine và leflu­nomide; Nhóm 2) Các thuốc sinh học (biological agents – bDMARDs) bao gồm các chất ức chế hoại tử u (tumour necrosis factor inhibi­tors – TNFi) và một số cơ chế hoạt động khác; Nhóm 3) Các thuốc tổng hợp điều trị theo mục tiêu (targeted syn­thetic tsDMARDs), như các thuốc ức chế phospho­diesterase inhibitors (ví dụ apremilast) hoặc ức chế JAK (ví dụ tofacitinib) (1).

Hiện nay chúng ta có khá nhiều lựa chọn với nguồn thông tin phong phú về tác dụng cũng như tính an toàn của các phương pháp điều trị trong thực hành lâm sàng. Những khuyến cáo về quản lý PsA cũng luôn được quan tâm sử dụng. Khuyến cáo thường được phát triển bởi một nhóm các chuyên gia dựa trên cơ sở những số liệu sẵn có (các nghiên cứu tổng quan tài liệu) và sự đồng thuận của họ (2). Khi có nhiều thử nghiệm chất lượng tốt, sai chệch ít, những nghiên cứu có thể đưa ra các bằng chứng về hiệu quả, những ca lâm sàng điển hình cả về hiệu quả điều trị cũng như tác dụng không mong muốn của các thuốc được sử dụng; Điều này sẽ do các tác giả phản ánh và chỉ được công bố chính thức bởi FDA hoặc EMA (European Medicine Agency). Tuy nhiên, những nghiên cứu này cũng chưa cho phép sắp xếp các thuốc mới theo một trật tự nào đó trong hoàn cảnh thiếu các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng và các thử nghiệm mang tính chiến lược.

Do đó, khuyến cáo về quản lý PsA được phát triển bởi các chuyên gia sẽ hướng dẫn thực hành cho thày thuốc cũng như những đối tượng khác kể cả người bệnh và những cơ quan hữu quan khác.

Khuyến cáo về quản lý PsA gồm những phần khác nhau được phát triển bởi nhiều nhóm chuyên gia, cấp quốc gia hoặc là cấp quốc tế (3).Ở cấp quốc tế, hai khuyến cáo hiện nay được phát triển bởi: Nhóm các nhà Nghiên cứu và Đánh giá bệnh Vảy nến và Viêm khớp vảy nến (GRAPPA) năm 2009 và bởi Hiệp hội Khớp học Châu (EULAR) năm 2012 (4, 5). Cả hai khuyến cáo này đều đang được chỉnh sửa và cập nhật liên tục.
Những khuyến cáo đã ban hành của GRAPPA and EULAR

Những khuyến cáo này hướng dẫn các liệu pháp điều trị có sử dụng thuốc, mặc dù ngày nay quản lý PsA nên phối hợp giữa sử dụng thuốc, giáo dục người bệnh và tập luyện thường xuyên (6).

Cả hai khuyến cáo cùng đề xuất các mức độ, các tiếp cận chồng lấn trong quản lý PsA như Hình 1. Tuy nhiên, khuyến cáo của GRAPPA dựa trên quan điểm của số lượng những nhà Da liễu học và Khớp học tương đối đều nhau trong khi khuyến cáo của EULAR thường hay nhấn mạnh vào khía cạnh cơ xương khớp, do EULAR là tổ chức của những nhà Khớp học (2).


Hình 1. Giảm đồ xu hướng sử dụng thuốc trong quản lý viêm khớp vảy nến
NSAIDs: Các thuốc chống viêm non-steroid; DMARDs: Các thuốc điều trị bệnh khớp

Phần đầu tiên của khuyến cáo đã được GRAPPA công bố (5). Căn cứ những nghiên cứu tổng quan tài liệu và kinh nghiệm của chuyên gia về da liễu học, khớp học, khuyến cáo này đề xuất những phương pháp điều trị khác nhau dựa vào các biểu hiện trên lâm sàng khác nhau (Hình 2) (5).

Khuyến cáo của EULAR được phát triển vào năm 2012 (4) dựa trên các nghiên cứu tổng quan tài liệu và kết quả của các cuộc thảo luận, biểu quyết của một uỷ ban gồm đại diện các nhà Khớp học, Phương pháp học, Nhân viên y tế, Người bệnh và Chuyên gia da liễu. So sánh với khuyến cáo của GRAPPA, thì những khuyến cáo của EULAR đặt vấn đề cơ xương khớp lên hàng đầu, trình bày cũng có sự khác biệt bao gồm 1 bảng với 5 nguyên tắc sắp xếp và 10 khuyến cáo cũng như một sơ đồ (Hình 3).

Cả hai khuyến cáo này đều lấy các thuốc chống viêm non-steroid là liệu pháp đầu tay. Sau đó mới đến các thuốc điều trị khớp tổng hợp truyền thống (csDMARDs) như metho­trexate và cuối cùng nếu bệnh vẫn không thoái triển thì sử dụng đến các thuốc ức chế yếu tố hoại tử u (TNF) (4, 5).


Hình 2. Sơ đồ quản lý viêm khớp vảy nến theo khuyến cáo của GRAPPA 2009

Khuyến cáo cập nhật liên tục của EULAR

Hiện tại, các liệu pháp quản lý PsA mới nổi lên là thuốc sinh học (bDMARDs) có tên là secukinumab hoặc ustekinumab và một thuốc tổng hợp điều trị theo mục tiêu (tsDMARD): apre­milast (8-10). Hơn nữa, nhiều thử nghiệm mới đã cho thấy chiến lược điều trị và khuyến cáo “điều trị đạt mục tiêu” (11) đã được phát triển để quản lý PsA (12, 13).

Do kỳ vọng vào các thuốc mới và chiến lược điều trị mới, trong 2 năm 2014 – 2015, EULAR đã cập nhật các khuyến cáo quản lý PsA của họ. Kết quả của những cập nhật này đã được trình bày tại Hội nghị EULAR năm 2015, hiện đang được xem xét để chuẩn bị xuất bản (14).
Những thuốc điều trị khớp tổng hợp truyền thống (csDMARDs)

Khuyến cáo đã chỉ ra các thuốc csDMARDs là thuốc đầu tiên được sử dụng khi các thuốc kháng viêm non-steroid và các thuốc điều trị tại chỗ thất bại. Căn cứ số liệu hiện có (8) và khuyến cáo năm 2012, các chuyên gia đã đề xuất methotrexate là lựa chọn đầu tiên của nhóm các thuốc csDMARD. Mặc dù số lượng các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng của methotrexate còn ít và một trong số đó lại cho thấy kết quả ban đầu chưa được tốt (7, 21), nhưng vẫn có một số lượng sử dụng tương đối rộng rãi và kết quả khá ổn của điều trị duy trì PsA bằng methotrexate (22, 23). Methotrexate là thuốc csDMARD đầu tiên được chỉ định cho người bệnh do tính hiệu quả của nó trên khớp và da nhưng những thuốc khác cũng có thể được chỉ định là leflu­nomide, sulfasalazine hay một số thuốc khác nữa.
Yếu tố ức chế hoại tử u (TNFi)


Hình 3: Sơ đồ quản lý viêm khớp vảy nến theo khuyến cáo của EULAR 2012

Trong một số ca, thuốc ban đầu được chỉ định là csDMARD dung nạp không tốt hoặc hiệu quả điều trị thấp sau một thời gian đủ dài (3-6 tháng) không đạt được mục tiêu điều trị. Trong những trường hợp này, người ta xem xét sử dụng đến thuốc csDMARD thứ hai hoặc thuốc DMARD sinh học (bDMARD). Căn cứ kinh nghiệm lâm sàng, các chuyên gia luôn cho rằng TNFi là lựa chọn đầu tiên trong các thuốc sinh học. Tất cả các TNFi hiện nay (adalimumab, certolizumab pegol, etanercept, golimumab và in­fliximab) đều cho thấy có hiệu quả trong điều trị PsA đối với các thương tổn trên da và khớp (7, 8, 24). Nếu được cấp giấy phép, các thuốc tương đương sinh học (Biosimilars) cũng có thể được sử dụng (25).

Những thuốc bDMARDs và tsDMARDs khác

Sau này, khuyến cáo của EULAR cũng cho thấy sử dụng thuốc sinh học bDMARDs hướng đến 2 cơ chế hoạt động mới là ức chế IL12/23 (ustekinumab) và IL17 (secukinumab) (8, 10, 26–29, 9, 30, 31). Những thuốc này được đăng trên dược thư đối với điều trị PsA. Quan trọng là nhóm chủ chốt của EULAR cho rằng các thuốc TNFi có thể được chỉ định trong hầu hết các trường hợp bệnh nhân PsA (14).

Thuốc điều trị theo mục tiêu tổng hợp tsDMARD đầu tiên được chấp nhận để điều trị PsA là một phospho-diesterase 4-inhibitor và nhóm chủ chốt của EULAR cũng đã cho thấy chi tiết về chất này; nó có tác dụng khá rõ rệt trên khớp, da ở bệnh nhân PsA (32-34) nhưng vẫn còn thiếu số liệu để có thể so sánh hiệu quả của nó với methotrexate và với các thuốc csDMARDs khác hoặc bDMARDs (8). Các khuyến cáo mới công bố các thuốc này được sử dụng trong trường hợp thất bại với các thuốc csDMARD hoặc không phù hợp với bDMARD (14). Với những người bệnh có biểu hiện của vảy nến thể đảo ngược hoặc biểu hiện ở điểm bám gân, sơ đồ có khác đi một chút, khi các thuốc csDMARD không hiệu quả. Xem tài liệu đã công bố chính để biết thêm chi tiết.
Chuyển thuốc

Nếu thuốc sinh học đầu tiên không hiệu quả, chúng ta có thể chuyển sang thuốc sinh học khác hoặc các thuốc điều trị mục tiêu tổng hợp tsDMARD.
Bàn luận

Nhóm tác giả của EULAR nhận thấy việc thay đổi các thuốc khác nhau trong điều trị PsA luôn là chủ đề bàn luận trong cộng đồng các nhà khớp học. Số liệu dài hạn ngày càng nhiều như số liệu về hiệu quả hàng ngày, về độ an toàn, tính dung nạp ngày càng được biết đến nhiều hơn. Cho tới lúc đó, bệnh nhân nếu thất bại với điều trị bằng csD­MARDs chỉ có thể được chuyển sang một trong các thuốc TNFi, nếu tiếp tục không đáp ứng với TNFi này thì chuyển sang thuốc TNFi khác. Hiện nay đã có một vài lựa chọn khác để điều trị cho bệnh nhân PsAgặp phải vấn đề này (35).
Khuyến cáo cập nhật liên tục của GRAPPA

Hai năm trước, GRAPPA cập nhật một khuyến cáo quản lý điều trị PsA (36). Khuyến cáo này hiện đã được hoàn tất và sắp được công bố rộng rãi (thời điểm viết bài này – ND). Khuyến cáo mới dựa trên một số nghiên cứu tổng quan tài liệu tập trung vào các biểu hiện khác nhau của PsA (37-43). Định dạng của khuyến cáo mới này tương đối gần gũi với các khuyến cáo của EULAR cũng có các nguyên tắc và các hình vẽ đưa ra các chỉ định điều trị dựa vào các biểu hiện lâm sàng.

Trật tự chính xác của các thuốc không được đưa ra một cách chính thống, tuy nhiên sự xuất hiện của các thuốc trong các khuyến cáo của GRAPPA nổi bật hơn so với sự xuất hiện của chúng trên các khuyến cáo của EULAR. Đọc giả quan tâm đến vấn đề này xin hãy tham khảo các khuyến cáo khi chúng chính thức được xuất bản.
Kết luận

Những khuyến cáo về quản lý và điều trị PsA cung cấp cho các bác sỹ điều trị cũng như những người liên quan khác phương pháp tiếp cận chẩn đoán và điều trị khoa học dựa trên các biểu hiện lâm sàng cũng như sự đáp ứng với điều trị. Chúng cũng thông báo cho người bệnh thấy được mục tiêu điều trị, chiến lược và cơ hội hiện tại của họ. Không nhiều khuyến cáo có được tác dụng kép như thế. Đặc biệt sơ đồ mới đề xuất của EULAR cho thấy những vấn đề liên quan như là so sánh một các không trực tiếp giữa các thuốc với nhau về hiệu quả, tính an toàn, dung nạp, tính thuận tiện, giá cả và tác động lâu dài(14). Cũng nên xem xét điều này để đưa vào khuyến cáo mới của GRAPPA.

Điểm mạnh của các khuyến cáo quản lý PsA: Chúng đưa ra những đồng thuận mới, cập nhật về quản lý một bệnh hay đưa ra các lựa chọn điều trị trong một định dạng đơn giản (thường là bảng, sơ đồ, hình vẽ)

Tuy nhiên, những khuyến cáo này cũng còn một số hạn chế sau đây: chúng sẽ nhanh chóng trở thành lạc hậu khi một kết quả nghiên cứu mới được công bố; Chúng được dựa trên sự đồng thuận của một số lượng ít người do đó không thể đại diện được cho ý kiến của đông đảo thày thuốc; Chúng có thể được soạn thảo trong sự sung đột lợi ích giữa các công ty, tập đoàn dược phẩm và chúng đại diện cho một quần thể chung, nhiều khi không thể áp dụng cho một cá thể bệnh nhân nào. Tuy nhiên, nếu như một kết luận nào đó dựa trên một nghiên cứu tổng quan tài liệu có chất lượng, các bài báo được duyệt cẩn thận thì những khuyến cáo này rất có giá trị trong điều trị và chăm sóc cho người bệnh. Những khuyến cáo ở mức độ quốc tế nhiều khi cũng không thể áp dụng cho một số quốc gia do vấn đề cung ứng dược phẩm ở các quốc gia là khác nhau. Thuốc được khuyến cáo nhiều khi không được lưu hành ở quốc gia nào đó chẳng hạn.

Trong một số trường hợp, các khuyến cáo đưa ra các lựa chọn khác nhau cho người đọc, nhiều khi không thể tìm được một biện pháp can thiệp tối ưu, do đó các bác sỹ phải vận dụng kiến thức và kinh nghiệm của mình trong khi áp dụng các khuyến cáo này.

Cuối cùng, quá trình phát triển các khuyến cáo thường dẫn đến việc phát triển các ý tưởng và kế hoạch nghiên cứu (4, 14).Trong quản lý PsA, lịch trình nghiên cứu được kéo dài trong khi bằng chứng đối với nhiều khuyến cáo còn ở mức thấp. Khi sẵn có các số liệu mới, các khuyến cáo này tiếp tục được cập nhật để công cuộc chăm sóc và điều trị bệnh nhân PsA ngày càng hiệu quả và dễ dàng hơn.

Trân trọng cảm ơn đọc giả đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến BS. Hoàng Thị Phượng, Phó Trưởng khoa Điều trị và chăm sóc và bệnh da Phụ nữ và trẻ em, Bệnh viện Da liễu Trung ương, người đã hiệu đính giúp tôi bản dịch này trước khi gửi Ban biên tập website: dalieu.vn (ND).
Tài liệu tham khảo

1. SMOLEN JS, van der HEIJDE D, MACHOLD KP, ALETAHA D, LANDEWÉ R: Proposal for a new nomenclature of disease-modifying an­tirheumatic drugs. Ann Rheum Dis 2014; 73: 3-5.

2. van der HEIJDE D, ALETAHA D, CARMONA L et al.: 2014 Update of the EULAR stand­ardised operating procedures for EULAR-endorsed recommendations. Ann Rheum Dis 2015; 74: 8-13.

3. PACCOU J, WENDLING D: Current treatment of psoriatic arthritis: update based on a sys­tematic literature review to establish French Society for Rheumatology (SFR) recommen­dations for managing spondyloarthritis. Jt Bone Spine Rev Rhum 2015; 82: 80-5.

4. GOSSEC L, SMOLEN JS, GAUJOUX-VIALA C et al.: European League Against Rheuma­tism recommendations for the management of psoriatic arthritis with pharmacological therapies. Ann Rheum Dis 2012; 71: 4-12.

5. RITCHLIN CT, KAVANAUGH A, GLADMAN DD et al.: Treatment recommendations for psoriatic arthritis. Ann Rheum Dis 2009; 68: 1387-94.

6. HOVING JL, LACAILLE D, URQUHART DM, HANNU TJ, SLUITER JK, FRINGS-DRESEN MHW: Non-pharmacological interventions for preventing job loss in workers with in­flammatory arthritis. Cochrane Database Syst Rev 2014; 11: CD010208.

7. ASH Z, GAUJOUX-VIALA C, GOSSEC L et al.: A systematic literature review of drug therapies for the treatment of psoriatic ar­thritis: current evidence and meta-analysis informing the EULAR recommendations for the management of psoriatic arthritis. Ann Rheum Dis 2012; 71: 319-26.

8. RAMIRO S, SMOLEN JS, LANDEWÉ R et al.: Pharmacological treatment of psoriatic ar­thritis: a systematic literature review for the 2015 update of the EULAR Recommenda­tions for the management of psoriatic arthri­tis. Submitted to Ann Rheum Dis.

9. McINNES IB, MEASE PJ, KIRKHAM B et al.: Secukinumab, a human anti-interleukin-17A monoclonal antibody, in patients with pso­riatic arthritis (FUTURE 2): a randomised, double-blind, placebo-controlled, phase 3 tri­al. Lancet 2015 Jun 26 [Epub ahead of print].

10. KAVANAUGH A, RITCHLIN C, RAHMAN P et al.: Ustekinumab, an anti-IL-12/23 p40 monoclonal antibody, inhibits radiographic progression in patients with active psoriatic arthritis: results of an integrated analysis of radiographic data from the phase 3, multicen­tre, randomised, double-blind, placebo-con­trolled PSUMMIT-1 and PSUMMIT-2 trials. Ann Rheum Dis 2014; 73: 1000-6.

11. COATES LC, NAVARRO-COY N, BROWN SR et al.: The TICOPA protocol (TIght COntrol of Psoriatic Arthritis): a randomised controlled trial to compare intensive management ver­sus standard care in early psoriatic arthritis. BMC Musculoskelet Disord 2013; 14: 101.

12. SMOLEN JS, BRAUN J, DOUGADOS M et al.: Treating spondyloarthritis, including anky­losing spondylitis and psoriatic arthritis, to target: recommendations of an international task force. Ann Rheum Dis 2014; 73: 6-16.

13. SCHOELS MM, BRAUN J, DOUGADOS M et al.: Treating axial and peripheral spondy­loarthritis, including psoriatic arthritis, to tar­get: results of a systematic literature search to support an international treat-to-target recommendation in spondyloarthritis. Ann Rheum Dis 2014; 73: 238-42.

14. GOSSEC L, SMOLEN JS et al.: European League Against Rheumatism (EULAR) rec­ommendations for the management of psori­atic arthritis with pharmacological therapies: 2015 update. Ann Rheum Dis 2015 submitted.

15. CHANG CA, GOTTLIEB AB, LIZZUL PF: Man­agement of psoriatic arthritis from the view of the dermatologist. Nat Rev Rheumatol 2011; 7: 588-98.

16. OGDIE A, SCHWARTZMAN S, HUSNI ME: Recognizing and managing comorbidities in psoriatic arthritis. Curr Opin Rheumatol 2015; 27: 118-26.

17. Di MINNO MND, AMBROSINO P, LUPOLI R et al.: Cardiovascular risk markers in patients with psoriatic arthritis: a meta-analysis of lit­erature studies. Ann Med 2015; 47: 346-53.

18. COATES L: TICOPA trial. Lancet 2015 (in press).

19. COATES LC, FRANSEN J, HELLIWELL PS: Defining minimal disease activity in psori­atic arthritis: a proposed objective target for treatment. Ann Rheum Dis 2010; 69: 48-53.

20. SCHOELS MM, ALETAHA D, ALASTI F, SMO­LEN JS: Disease activity in psoriatic arthritis (PsA): defining remission and treatment suc­cess using the DAPSA score. Ann Rheum Dis 2015 Aug 12 [Epub ahead of print].

21. KINGSLEY GH, KOWALCZYK A, TAYLOR H et al.: A randomized placebo-controlled trial of methotrexate in psoriatic arthritis. Rheu­matol Oxf Engl 2012; 51: 1368-77.

22. LIE E, van der HEIJDE D, UHLIG T et al.: Effectiveness and retention rates of metho­trexate in psoriatic arthritis in comparison with methotrexate-treated patients with rheu­matoid arthritis. Ann Rheum Dis 2010; 69: 671-6.

23. HELLIWELL PS, TAYLOR WJ, CASPARStudy Group: Treatment of psoriatic arthritis and rheumatoid arthritis with disease modifying drugs — comparison of drugs and adverse re­actions. J Rheumatol 2008; 35: 472-6.

24. EDER L, THAVANESWARAN A, CHANDRAN V, GLADMAN DD: Tumour necrosis factor α blockers are more effective than methotrex­ate in the inhibition of radiographic joint damage progression among patients with psoriatic arthritis. Ann Rheum Dis 2014; 73: 1007-11.

25. PARK W, HRYCAJ P, JEKA S et al.: A ran­domised, double-blind, multicentre, paral­lel-group, prospective study comparing the pharmacokinetics, safety, and efficacy of CT-P13 and innovator infliximab in patients with ankylosing spondylitis: the PLANETAS study. Ann Rheum Dis 2013; 72: 1605-12.

26. GOTTLIEB A, MENTER A, MENDELSOHN A et al.: Ustekinumab, a human interleukin 12/23 monoclonal antibody, for psoriatic arthritis: randomised, double-blind, placebo-controlled, crossover trial. Lancet 2009; 373: 633-40.

27. KAVANAUGH A, MENTER A, MENDELSOHN A, SHEN Y-K, LEE S, GOTTLIEB AB: Effect of ustekinumab on physical function and health-related quality of life in patients with psoriatic arthritis: a randomized, placebo-controlled, phase II trial. Curr Med Res Opin 2010; 26: 2385-92.

28. McINNES IB, KAVANAUGH A, GOTTLIEB AB et al.: Efficacy and safety of ustekinumab in patients with active psoriatic arthritis: 1 year results of the phase 3, multicentre, double-blind, placebo-controlled PSUMMIT 1 trial. Lancet 2013; 382: 780-9.

29. RITCHLIN C, RAHMAN P, KAVANAUGH A et al.: Efficacy and safety of the anti-IL-12/23 p40 monoclonal antibody, ustekinumab, in patients with active psoriatic arthritis despite conventional non-biological and biological anti-tumour necrosis factor therapy: 6-month and 1-year results of the phase 3, multicen­tre, double-blind, placebo-controlled, ran­domised PSUMMIT 2 trial. Ann Rheum Dis 2014; 73: 990-9.

30. McINNES IB, SIEPER J, BRAUN J et al.: Effica­cy and safety of secukinumab, a fully human anti-interleukin-17A monoclonal antibody, in patients with moderate-to-severe psoriatic ar­thritis: a 24-week, randomised, double-blind, placebo-controlled, phase II proof-of-concept trial. Ann Rheum Dis 2014; 73: 349-56.

31. HELLIWELL P, COATES L: Interleukin-17 inhibition in psoriatic arthritis. Lancet Lond Engl 2015 Jun 26 [Epub ahead of print].

32. KAVANAUGH A, MEASE PJ, GOMEZ-REINO JJ et al.: Treatment of psoriatic arthritis in a phase 3 randomised, placebo-controlled trial with apremilast, an oral phosphodiesterase 4 inhibitor. Ann Rheum Dis 2014; 73: 1020-6.

33. SCHETT G, WOLLENHAUPT J, PAPP K et al.: Oral apremilast in the treatment of ac­tive psoriatic arthritis: results of a multi­center, randomized, double-blind, placebo-controlled study. Arthritis Rheum 2012; 64: 3156-67.

34. STRAND V, SCHETT G, HU C, STEVENS RM: Patient-reported Health-related Quality of Life with apremilast for psoriatic arthritis: a phase II, randomized, controlled study. J Rheumatol 2013; 40: 1158-65.

35. OLIVIERI I, D’ANGELO S, PALAZZI C, PADU­LA A: Advances in the management of psori­atic arthritis. Nat Rev Rheumatol 2014; 10: 531-42.

36. COATES LC, RITCHLIN CT, KAVANAUGH AF: GRAPPA treatment recommendations: an update from the GRAPPA 2013 Annual Meeting. J Rheumatol 2014; 41: 1237-9.

37. ORBAI A-M, WEITZ J, SIEGEL EL et al.: Systematic review of treatment effectiveness and outcome measures for enthesitis in psori­atic arthritis. J Rheumatol 2014; 41: 2290-4.

38. ROSE S, TOLOZA S, BAUTISTA-MOLANO W, HELLIWELL PS, GRAPPADactylitisStudy Group: Comprehensive treatment of dacty­litis in psoriatic arthritis. J Rheumatol 2014; 41: 2295-300.

39. ARMSTRONG AW, TUONG W, LOVE TJ et al.: Treatments for nail psoriasis: a systematic review by the GRAPPA Nail Psoriasis Work Group. J Rheumatol 2014; 41: 2306-14.

40. ACOSTA FELQUER ML, COATES LC, SORI­ANO ER et al.: Drug therapies for peripheral joint disease in psoriatic arthritis: a system­atic review. J Rheumatol 2014; 41: 2277-85.

41. OGDIE A, SCHWARTZMAN S, EDER L et al.: Comprehensive treatment of psoriatic arthri­tis: managing comorbidities and extraarticu­lar manifestations. J Rheumatol 2014; 41: 2315-22.

42. NASH P: Therapies for axial disease in psori­atic arthritis. A systematic review.J Rheuma­tol 2006; 33: 1431-4.

43. COATES LC, KAVANAUGH A, RITCHLIN CT, GRAPPATreatment Guideline Committee: Systematic review of treatments for psoriatic arthritis: 2014 update for the GRAPPA. J Rheumatol 2014; 41: 2273-6.

Người dịch: Ths. Bs. Vũ Thanh Tùng, Phòng NCKH-HTQT Bệnh viện Da liễu Trung ương

Đăng tin: Phòng Công nghệ thông tin và Giáo dục Y tế