Khoa PTTM & Phục hồi chức năngKĩ thuật caoPhẫu thuật da

Móng chọc thịt

I. ĐẠI CƯƠNG

     Móng chọc thịt là hiện tượng góc trước của bờ bên bản móng chọc và xé rách tổ chức phần mềm ở cuốn móng bên làm cho sưng, đau và tiếp theo là nhiễm khuẩn ở cuốn móng bên.Các triệu chứng có xu hướng xấu hơn khi đi giầy, nhiễm khuẩn và đặc biệt là bờ bên bản móng liên tục phát triển chọc vào phần mềm ở cuốn móng bên [3]. 

    Móng chọc thịt thường xảy ra ở ngón chân đặc biệt hay xảy ra ở ngón chân cái và hiếm khi ở ngón tay.

     Móng chọc thịt không gây nguy hiểm đến tính mạng của bệnh nhân, nhưng nó lại gây khó khăn cho người bệnh khi đi lại, đặc biệt là những bệnh nhân cần đi giầy mà lại không đi được vì đau do móng chọc.
II. NGUYÊN NHÂN

     Cắt tỉa móng không hợp lý và đi giày chật là hai nguyên nhân chính gây móng chọc thịt.

     + Cắt tỉa móng không thích hợp: Khi cắt tỉa bờ bên bản móng sâu vào bên trong, tổ chức phần mềm bị ép vào thay thế chỗ của bản móng đã cắt, bản móng phát triển thẳng ra phía ngoài xuyên qua tổ chức phần mềm gây móng chọc thịt.

     +  Đi giầy chật:Đi giầy cao gót, mũi nhọn, mũi giầy ép cuốn móng bên vào bờ bên bản móng, bản móng phát triển xuyên vào cuốn móng bên gây móng chọc thịt.

     Ngoài ra còn có thể gặp các nguyên nhân như tình trạng bệnh lý của móng dẫn đến thay đổi bất thường của bản móng: Ví dụ, nấm móng, loạn dưỡng… làm dày và rộng ngón có thể thúc đẩy bản móng đâm vào cuốn móng bên.      Phụ nữ chửa đẻ tăng cân cũng có thể bị móng chọc thịt do phần mềm ở cuốn móng bên phát triển chùm lên bản móng. Bản móng phát triển chọc vào tổ chức phần mềm ở cuốn móng bên.
III. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG VÀ NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Giai đoạn I (viêm nhẹ)

     Dấu hiệu sớm nhất của móng chọc thịt là đau, sưng nhẹ và tăng tiết mồ hôi của vùng liên quan. Bản móng đã gây chấn thương cho biểu mô của cuốn móng bên, hiện tượng này liên tiếp xảy ra gây nên phù nề cuốn móng bên, phù nề này càng trầm trọng hơn do áp lực ở giữa bản móng và xương ngón. Có nhiều mức độ sưng nề và đỏ có thể xảy ra, nó phụ thuộc vào thời gian của tổn thương.
Giai đoạn II ( Viêm vừa )

     Đặc điểm của giai đoạn này là đau nhạy cảm, tăng tiết mồ hôi và tăng sinh tổ chức hạt ở cuốn móng bên thông qua tổ chức mới phá huỷ hoặc loét và trùm lên bản móng, cuốn móng bên phù nề, tiết dịch và mủ. Có mùi thối được tạo ra bởi các vi khuẩn gram dương xâm chiếm tại chỗ
Giai đoạn III ( viêm nặng )

     Các triệu chứng giai đoạn này giống như giai đoạn II, nhưng về mặt giải phẫu lại có sự khác biệt quan trọng. Tổ chức hạt phủ lên bản móng làm cho bản móng không thể nâng lên khỏi rãnh móng.
IV. XÉT NGHIỆM

     Không cần xét nghiệm để chẩn đoán, có thể xét nghiệm phục vụ điều trị phẫu thuật.
V.  CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
     Chấn thương: tiền sử có chấn thương , có tổn thương ở ngón.
     U ác tính ở móng: có thể gặp như ung thư tế bào gai, ung thư hắc tố. Cần làm sinh thiết để chẩn đoán xác định.
     Hạt cơm bờ bên ngón: hạt cơm có bề mặt sần sùi như gai cóc, phát triển chậm, không có hiện tượng viêm.
VI. ĐIỀU TRỊ

     Điều trị phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Tuy nhiên điều quan trọng là bệnh nhân không nên đi giày chật hoặc giầy cao gót, đi dép là tốt nhất.
Giai đoạn I

     Cần điều trị bảo tồn bằng các phương pháp sau.

     Ngâm chân vào nước ấm 4 lần/ngày.

     Rửa chân bao gồm cả vùng thương tổn với xà phòng và nước sạch.

     Đặt bông gòn vào góc rãnh móng bên: Nhẹ nhàng nâng góc móng ngoài lên và đặt cục bông gòn vào giữa bản móng và tổ chức phần mềm để góc ngoài bản móng không chọc vào tổ chức phân mềm.

          – Phương pháp Duboid: Cắt phần mềm ở góc bờ bên trước phần móng chọc thịt.

          – Nẹp móng đàn hồi ( Nail plinting with a flexible tube ): Để nâng hai bờ bên khỏi cuốn móng bên.
Giai đoạn II

     Giai đoạn này cần thiết phải dùng thuốc bôi và kháng sinh. Thuốc kháng sinh bôi kết hợp với thuốc tê tại chỗ để giảm đau. Có thể thực hiện phẫu thuật ở giai đoạn này.
Giai đoạn III

     Giai đoạn này điều trị móng chọc thịt bằng phẫu thuật. Phẫu thuật cắt bỏ một phần bản móng cùng với gốc móng tương ứng.
Quy trình phẫu thuật

     Tê tại chỗ: có thể tê vòng tròn quanh ngón hoặc tê trực tiếp vùng tổn thương cùng góc móng tương ứng.

     Lấy bỏ tổ chức hoại tử, mủ, tổ chức hạt phì đại, rửa vết thương.

     Cắt bỏ một phần bản móng và tạo ra một bờ móng mới. Diệt mầm móng bằng  đốt điện, phenol để ngăn ngừa móng bờ bên bản móng phát triển trở lại.

     Thường cắt bỏ bản móng cùng với mầm móng tương ứng trong một thì mổ.

     Khâu vết mổ, tra mỡ kháng sinh lên vết mổ, băng.

Tin bài và ảnh:  BS Phạm Cao Kiêm
Đăng tin: Phòng CNTT&GDYT

Tài liệu tham khảo

1. Bernard l. Raskin (1996): Nail – Princples and techniques of cutaneous surgury : 264- 281.

2. Gupta, -S; Sahoo, – B; Kumar, – B (2001): Treating ingrown toenail by nail splinting with a flexible tube; An Indian experience; J – Dermatol. Sep; 28 ( 9 ): 285 – 9.

3. Herold, – N; Houshian, -S; Riegels  Nielsen (2001): A prospective comparison of wedge matrix resection with nail matrix phenolization for the treatment of ingrown toenail: J – Foot – Ankle – Sur: Nov – Dec; 40 ( 6 ): 390 -5.

4. Mozena, John D(2002): The Mozena classification System and treatment algorithm for ingrown hallux nail: J- Am – Podiatr – Med – Assoc: Mar; 92 (3): 131 – 5.

5. Nardo Zaias; Miani Beach (1980): Ingrown nails, the nail in health and disease: 87 – 90.

6. Ozawa T; Nose K; Harada T; Muraoka; Ishii M (2005) : Partial matricectomy with a co2 laser for ingrown toenail after nail matrix staining 31 (3), 302 – 5.

7. Petres R. Rmpel; P. Robin (1996): Nails – Dermatologic surgery: 480 – 488.

8. Robert P. Fosnaugh (1982): Surgery of the nail – Skin surgery: 981 – 1007.
9. Richard.E. Fitzpatrich and Mitchel P. Goldman (1994): laser surgery Co2:, 198 – 247.