Phòng Chỉ đạo tuyến

Lịch sử hình thành

Phòng chỉ đạo tuyến được hình thành cuối những năm 1970 khi đất nước vừa mới giải phóng với yêu cầu cần phải có một đơn vị chỉ đạo phòng chống các bệnh da, hoa liễu trong toàn quốc. Đến năm 1982, Viện Da liễu được thành lập và phòng Chỉ đạo tuyến chính thức được Bộ Y tế quyết định thực hiện công tác chỉ đạo tuyến về các hoạt động của ngành Da liễu trong cả nước.

Tổ chức nhân sự

1. Tổ chức:
- Nhóm quản chương trình phong
- Nhóm quản lý chương trình STI
- Nhóm quản lý Đề án 1816
- Nhóm quản lý các bệnh da
2. Nhân sự:
- Ths.Bs. Đinh Hữu Nghị - Giám đốc Trung tâm đào tạo & Chỉ đạo tuyến - Trưởng phòng
- Ths. Lê Thị Mai – Phó Trưởng phòng

- Ths.Bs. Hà Tuấn Minh- Phó Trưởng phòng
- Bs. Dương Phúc Hiếu
- CN. Trần Thị Thanh Huyền

Chức năng & Nhiệm vụ

1. Chức năng:
Phòng Chỉ đạo tuyến là phòng nghiệp vụ, có chức năng tham mưu giúp Giám đốc lập kế hoạch, phương hướng, đường lối công tác chỉ đạo tuyến dưới và tổ chức thực hiện nhiệm vụ này.
2. Nhiệm vụ:
2.1. - Lập kế hoạch chỉ đạo tuyến và tổ chức thực hiện.
- Lập dự án phòng chống phong Quốc gia hàng năm và các dự án phòng chống phong khác với một sổ tổ chức phi chính phủ, tổ chức Y tế thế giới.
- Lập dự án phòng chống các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục với Cục phòng chống AIDS và các tổ chức khác hàng năm.
- Lập kế hoạch thực hiện Đề án 1816.
- Biên soạn tài liệu liên quan đến các hoạt động phòng chống phong, các nhiễm trùng qua đường tình dục.
2.2. Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác hoạt động chuyên môn kỹ thuật của tuyến dưới.
2.3. Định kỳ sơ kết, tổng kết, đúc kết kinh nghiệm về công tác chỉ đạo tuyến.
2.4. Tổ chức thống kê, lưu trữ hồ sơ theo qui chế Viện.
2.5. Phối hợp với phòng Nghiên cứu khoa học - Hợp tác quốc tế và các khoa phòng của Bệnh viện tổ chức thực hiện đào tạo liên tục cho tuyến dưới, đồng thời làm tốt công tác nghiên cứu khoa học.
2.6. Thực hiện các nhiệm vụ khác được phân công.

Hoạt động chuyên môn

1. Giám sát, tổ chức hoạt động chương trình phòng chống phong, STI, đề án 1816, các bệnh da.
2. Tập huấn: Nâng cao kiến thức cơ bản về bệnh phong, bệnh da, các bệnh lây truyền qua đường tình dục; tăng cường năng lực chẩn đoán, quản lý, chăm sóc tàn tật, giám sát và quản lý bệnh phong cho cán bộ y tế tại các tỉnh.
3. Phân phối thuốc Chương trình Phong, thuốc bôi ngoài da phục vụ khám phát hiện bệnh nhân phong mới, thuốc ĐHTL, thuốc chống cơn phản ứng, thuốc của Chương trình STI cho địa phương.
4. Hoạt động của xưởng giày: Đóng mới, sửa chữa giày dép cho bệnh nhân nội/ngoại trú tại Bệnh viện và các tỉnh lân cận.
5. Tổ chức giao ban Chỉ đạo tuyến giữa các bệnh viện khu vực và Bệnh viện Da liễu Trung ương về các hoạt động Chương trình phòng chống phong.
6. Tiến hành công tác tư vấn về HIV/ STI tại Bệnh viện Da liễu.
7. Khám phát hiện bệnh nhân STI/HIV tại phòng khám Bệnh viện Da liễ