Bộ môn Da liễu

Lịch sử hình thành

Bộ môn Da liễu là một đơn vị của Trường Đại học Y Hà Nội. Bộ môn đã có sự gắn bó mật thiết với Bệnh viện Da liễu Trung ương qua các thời kỳ. Nhiều cán bộ của Bộ môn đã và đang đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo Viện, lãnh đạo các Khoa phòng. Ngược lại, các cán bộ của Bệnh viện Da liễu Trung ương cũng phối hợp với Bộ môn tham gia công tác đào tạo đại học và sau đại học. Mô hình hoạt động của Bộ môn Da liễu được trường Đại học Y Hà Nội đánh giá là một trong các mô hình kết hợp Viện - Trường mẫu mực.

Hoàn cảnh ra đời Bộ môn

Năm 1935, Trường Đại Học Y Khoa Đông Dương đã thành lập Bộ Môn Da Liễu. BS. Grennilrboley được cử làm Chủ nhiệm bộ môn. Các Phó chủ nhiệm Bộ môn qua các thời kỳ bao gồm:

  • 1936: BS. Nguyễn Hữu Phiến
  • 1938-1940: BS. Nguyễn Văn Chính (chuyên về lâm sàng) và BS. Huỳnh Kham (chuyên về xét nghiệm).
  • 1941-1945: BS. Ngô Như Hòa

sau ngày giải Phóng Thủ đô (10/10/1954). GS. Đặng Vũ Hỷ cùng một số cán bộ được phân công tiếp quản Khoa Da Liễu nằm trong BV Bạch Mai và trở thành vị Chủ nhiệm khoa đầu tiên của Khoa Da Liễu, kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Da Liễu của Trường Đại Học Y Dược, Hà Nội.

Năm 1955, BS. Lê Kinh Duệ chuyển từ Quân y sang Bộ Môn. Năm 1959, 1960, 1961 Bộ Môn lần lượt được nhận thêm BS. Nguyễn Thị Đào, BS. Lê Tử Vân, BS. Nguyễn Văn Điền. Từ một Bộ môn chỉ có vài cán bộ, với công sức của các vị chủ nhiệm, các cán bộ trong Bộ môn kế tiếp nhau làm việc không mệt mỏi, Bộ Môn Da liễu đã dần dần trưởng thành lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng chuyên môn, chính trị.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ, ban giám hiệu trường ĐHYHN, Bộ Môn Da Liễu ngày nay đã đảm nhận các chương trình đào tạo Đại học, Sau đại học và các đối tượng khác để cùng Bệnh viện Da liễu Trung ương, ngành Da liễu tạo dựng nên hệ thống mạng lưới chuyên khoa Da Liễu từ trung ương đến cơ sở, từ thành thị đến nông thôn trên toàn quốc góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của toàn ngành.

Chức năng nhiệm vụ

Bộ Môn Da liễu được giao thực hiện các nhiệm vụ chính trị sau:

  • Đào tạo cán bộ.
  • Nghiên cứu khoa học.
  • Điều trị bệnh nhân.
  • Biên soạn và xuất bản tài liệu giảng dạy, nghiên cứu.
  • Công tác ngành.
  • Công tác khác.

Lãnh đạo Bộ môn

Các chủ nhiệm Bộ môn

  • Từ 1945 - 1972: GS. Đặng Vũ Hỷ.
  • Từ 1973 - 1997: GS. Lê Kinh Duệ.
  • Từ 1998 - 2008: PGS.TS Phạm Văn Hiển
  • Từ 2009 - 2015: GS.TS Trần Hậu Khang

Ban chủ nhiệm Bộ môn hiện nay

  • PGS.TS. Nguyễn Văn Thường: Chủ Nhiệm Bộ môn
  • PGS.TS. Nguyễn Hữu Sáu : Phó Chủ nhiệm Bộ môn
  • BSCKII. Nguyễn Thành: Phó Chủ nhiệm Bộ môn

Thành phần Bộ môn hiện tại

  • Cán bộ Bộ môn đảm nhiệm nhiều chức vụ lãnh đạo của Bệnh viện Da liễu Trung ương, bao gồm: Giám đốc, Phó Giám đốc phụ trách chuyên môn, 2 trưởng khoa/phòng, 5 phó trưởng khoa/phòng
  • Các cán bộ của Bộ môn đều được phân về làm việc tại các khoa/phòng cùng với các cán bộ của Bệnh viện Da liễu Trung ương

Các đề tài khoa học của Bộ môn

- Thanh toán bệnh Phong ở huyện Cẩm Bình, Hải Dương.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đến mô hình bệnh tật ở một số khu vực ở Hà Nội (PGS.TS Phạm Văn Hiển là Chủ nhiệm đề tài nhánh)
- PGS. TS Phạm Văn Hiển chủ trì các đề tài cấp Bộ:

+ Mối liên quan giữa STD/ HIV/ AIDS ở phụ nữ có thai tại Quảng Ninh.
+ Khảo sát dịch tễ học tàn tật trên bệnh nhân Phong. Biện pháp phòng và điều trị phục hồi ở 61/61 tỉnh/ thành phố và 20 khu điều trị Phong trong cả nước.
+ Xây dựng mô hình can thiệp bệnh nhiễm khuẩn sinh dục nữ (Dự án của UBDSKHHGĐ)

- GS.TS Trần Hậu Khang, Th.S Phạm Đăng Bảng đang thực hiện đề tài cấp Bộ “Áp dụng kĩ thuật PCR trong chẩn đoán nhiễm Chlamydia trachomatis đường sinh dục tiết niệu”
- Các đề tài hợp tác quốc tế:
+ Điều trị bệnh Phong bằng Ofloxacin tại Việt Nam do cố GS. Lê Kinh Duệ chủ trì, tiếp tục thực hiện là GS.TS Trần Hậu Khang, hiện đã được nghiệm thu
+ Miễn dịch trong bệnh Phong do GS.TS Trần Hậu Khang chủ trì.
Hầu hết các cán bộ của Bộ môn đều tham gia NCKH cùng với các cán bộ của Bệnh viện Da liễu Trung ương. Hàng năm , Bộ môn có khoảng 12-15 đề tài khoa học được báo cáo tại các buổi Sinh hoạt khoa học thường kỳ hàng tháng/ hàng quí tại Bệnh viện Da liễu, tại các Hội nghị khoa học ngành Da Liễu hoặc tại các Hội nghị khoa học của trường ĐHYHN.
- Đã có trên 500 công trình được hoàn thành. Nhiều công trình đã được báo cáo tại các hội nghị quốc tế và được đánh giá cao.

Thành tích của bộ môn

Thành tích tập thể:
- Huân chương Lao động hạng Ba (2002)
- Bằng khen của Hội đồng Bộ trưởng về giáo viên dạy giỏi (1983)
- Chi bộ đảng Bộ môn được công nhận là chi bộ vững mạnh/trong sạch trong nhiều năm.
- Công đoàn Bộ môn được Liên đoàn lao động tặng bằng khen (1996)
- Tổ phụ nữ Bộ môn nhiều năm được công nhận là phụ nữ giỏi việc nhà, đảm việc nước.
- 2 cán bộ Bộ môn đã phục vụ trong quân đội.
- 3 cán bộ đi chuyên gia y tế tại các nước Châu Phi.
- Nhiều cán bộ tham gia trong công tác cấp cứu thời chiến và khắc phục, đề phòng thiên tai lũ lụt.
Thành tích cá nhân:
- Cố GS Đặng Vũ Hỷ : Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996)
- Cố GS Lê Kinh Duệ :
 * Huân chương quốc tế sức khoẻ cho mọi người (1998)
 * Là giáo sư duy nhất được tặng thưởng giải thưởng quốc tế Sasakawa Health Prize về nâng cao sức khoẻ cho người dân trong đó bệnh Phong năm 1995, tại Geneve, Thuỵ sỹ
 * Huân chương Lao động hạng III (1993)
 * Huân chương Lao động hạng II năm (2000)
 * Huân chương Lao động hạng II năm (2007)
 * Nhà giáo ưu tú (1995)
 * Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt II tháng 9/2000
 * Được hội chống Phong những nước nói tiếng Pháp bầu làm phó chủ tịch của hội năm 1994
 * Uỷ viên ban chấp hành hội chống Phong thế giới
- Cố GS Lê Tử Vân:  
 *Nhà giáo ưu tú năm 1995
 *Huy chương vì sức khoẻ nhân dân, Lương y như từ mẫu   năm 1992
 *Huy chương vì sự nghiệp giáo dục năm 1993
 *Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng nhất
 *Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất
- Cố GS.TS Nguyễn Thị Đào:      
 *Nhà giáo ưu tú năm 1995
 *Huân chương kháng chiến hạng III
 *Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng II
 *Huy hiệu kháng chiến
 *7 công trình nghiên cứu khoa học và sáng kiến cải tiến được từ 10đ đến 100đ (1972,1973)
- PGS. TS Phạm Văn Hiển:
 *Huân chương Lao động hạng Ba
 *Huy chương chống Mỹ cứu nước hạng II
 *Bằng khen của Chính phủ
 *Thày thuốc ưu tú
 *Huy chương vì sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân
 *Bằng ghi công của sở y tế Manlanje – Angola năm 1992
 *Bằng khen của Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS năm 1999
 *Bằng khen của Bộ y Tế trong nhiều năm từ 2000 - 2006
 *Huy chương vì sự nghiệp khoa học và công nghệ năm 2001
- GS. TS Trần Hậu Khang:
 *Huy chương sáng tạo tuổi trẻ tại Hà Nội năm 1984
 *Giải nhì hội nghị khoa học sáng tạo tuổi trẻ tại Hà Nội năm 1983
 *Giải nhì hội nghị khoa học sáng tạo tuổi trẻ toàn quốc tại Huế năm 1985
 *Bằng khen của trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh về nghiên cứu khoa học năm 1985
 *Bằng khen của Bộ y tế trong nhiều năm 2000 - 2006
 *Giải xuất sắc Hội nghị khoa học về Da liễu tại Nhật Bản 2002
 *Bằng khen của Thủ tướng chính phủ năm 2005
 *Thầy thuốc ưu tú năm 2008
 *Huân chương vì sự nghiệp Khoa học và công nghệ
 *Huân chương vì sự nghiệp Giáo dục
 *Huân chương vì sự nghiệp Chăm sóc sức khỏe nhân dân
 *Kỷ niệm chương T.W Đoàn về Đào tạo - nghiên cứu khoa học
- PGS.TS Trần Lan Anh:
 *Giải 3 Hội thao khoa học kỹ thuật BVBM năm 1983
 *Bằng khen của Bộ y tế trong 6 năm từ 2000 - 2005
 *Huy chương vì sự nghiệp khoa học và công nghệ 2001
 *Huy chương vì sự nghiệp Giáo dục 2001
 *Huy chương vì sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân
- BSCKII Nguyễn Thành:
 *Giải nhì Hội nghị khoa học tuổi trẻ toàn quốc năm 1984.
- Cử nhân Lê Văn Lãng:
 * Huy chương chống Mỹ hạng nhất
 * Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng
- ThS Phạm Đăng Bảng:
 * Giải nhất Hội nghị khoa học tuổi trẻ toàn quốc năm 2006