Chia sẻ cùng đồng nghiệpChuyên môn

CẬP NHẬT ỨNG DỤNG DERMOSCOPY TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ NẤM DA ĐẦU

Posted
  1. Đại cương

Nấm da đầu là tình trạng nhiễm nấm nông tóc và da đầu, bệnh thường gặp ở lứa tuổi trẻ em từ 3-14 tuổi. Nguyên nhân gây bệnh do các chủng nấm như Trichophyton tonsurans, Microsporum canis…..

Bệnh tuy không gây nguy hiểm tính mạng, tuy nhiên hậu quả có thể gây rụng tóc, trường hợp phản ứng viêm mạnh dẫn đến rụng tóc sẹo. Phát hiện sớm và điều trị bệnh giúp làm giảm nguy cơ mất tóc và ngăn chặn nguồn lây cho cộng đồng.

Nấm da đầu biểu hiện bởi các thể:

– Thể không viêm: bong vảy mỏng vùng da đầu có thể kèm theo rụng tóc hoặc không, các điểm chấm đen “black dot”.

– Thể viêm: mụn mủ vùng nang tóc, nhọt, viêm mạnh có thể dẫn đến rụng tóc sẹo, kèm theo nổi hạch vùng cổ sau.

– Tinea favosa (favus): sẩn nang lông, vảy tiết vàng, mùi khó chịu, rụng tóc sẹo

Chẩn đoán nấm da đầu hiện nay chủ yếu vẫn là sử dụng tìm sợi nấm trên soi tươi, nuôi cấy. Tuy nhiên các phương pháp này có nhược điểm là mất nhiều thời gian, đồng thời kết quả phụ thuộc nhiều vào kĩ thuật lấy bệnh phẩm  và nhận định kết quả. Đối với đèn Wood thường chỉ chẩn đoán được đối với một số chủng nấm ngoại sợ. Gần đây, dermoscopy đang là một công cụ được sử dụng hỗ trợ chẩn đoán, theo dõi điều trị nhiều bệnh lí  trong đó có nấm da đầu.

  1. Dermoscopy trong chẩn đoán nấm da đầu

Báo cáo đầu tiên sử dụng dermoscopy trong chẩn đoán nấm da đầu là do Monika Slowinska, khi ông phân biệt nấm da đầu với rụng tóc mảng trên dermoscopy bởi dấu hiệu tóc hình dấu phẩy. Trên lâm sàng, nấm da đầu và rụng tóc mảng đều biểu hiện bởi rụng tóc từng mảng, vì vậy nghiên cứu này đã được chú ý bởi tính ứng dụng cao. Sau đó, một nghiên cứu khác tiến hành năm 2017 thực hiện trên 40 bệnh nhân nấm da dầu và 20 bệnh nhân rụng tóc mảng đã được chẩn đoán xác định, thực hiện soi dermoscopy cho thấy các dấu hiệu đặc trưng của nấm da đầu giúp phân biệt với rụng tóc mảng là tóc hình dấu phấy, hình zic-zắc, hình mã vạch, hình xoắn nút chai. Các dấu hiệu như như chấm đen, tóc gãy là hai dấu hiệu có thể gặp trong cả hai bệnh.

Năm 2014, nghiên cứu trên 43 bệnh nhân nấm da đầu được chẩn đoán chính xác dựa trên nhuộm soi và/hoặc nuôi cấy. Các bệnh nhân này được tiến hành soi tổn thương dưới dermoscopy ghi nhận những hình ảnh đặc trưng theo từng chủng nấm nuôi cấy được. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ nhạy của soi dermoscopy là 72% (31/43 trường hợp). Có 30% các trường hợp không có các hình ảnh gợi ý đã nêu ở trên, trong số này có 75% các trường hợp có biểu hiện viêm. Theo chủng nấm phân lập được, với các chủng nấm nội sợi thường có biểu hiện hình xoắn nút chai, hình dấu phẩy; trong khi đó với các chủng nấm ngoại sợi hình ảnh hay gặp là hình mã vạch, hình zic-zắc, và cả hai loại nấm này đều có thể gặp hình ảnh tóc gãy và chấm đen ở giai đọan sau của bệnh.

Theo hướng dẫn điều trị nấm da đầu của Hiệp hội Da liễu Anh năm 2014, lựa chọn điều trị nấm da đầu phụ thuộc vào chủng nấm gây bệnh là nấm nội sợi hay ngoại sợi. Kết quả của nghiên cứu này là bằng chứng hỗ trợ cho lựa chọn thuốc chống nấm phù hợp với tác nhân gây bệnh.

3. Dermoscopy trong theo dõi điều trị nấm da đầu

Trong điều trị nấm da đầu, tiêu chuẩn cho việc ngưng hay tiếp tục điều trị là soi và/hoặc nuôi cấy còn nấm hay không. Mặc dù vậy, soi và/hoặc nuôi cấy mất nhiều thời gian và không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được. Dermoscopy có thể hỗ trợ cho việc theo dõi điều trị nấm da đầu. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Da liễu châu Âu năm 2017, 50 bệnh nhân nấm da đầu điều trị với itraconazole trong thời gian 6 tuần. Bệnh nhân được theo dõi bằng hẹn khám lại tại tuần 4, tuần 8, tuần 12 của điều trị, khám lâm sàng và soi tổn thương bằng dermoscopy. Tại tuần 8 của điều trị các dấu hiệu của nấm da đầu đã biến mất, điều này ủng hộ cho việc ngưng điều trị thuốc chống nấm.

  1. Kết luận

Nấm da đầu là bệnh lí hay gặp ở lứa tuổi trẻ em nhưng dễ bị bỏ qua hoặc chẩn đóan nhầm. Sử dụng dermoscopy giúp hỗ trợ chẩn đoán một cách đơn giản, dễ áp dụng, nhanh chóng trong chẩn đoán bệnh và theo dõi điều trị bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Comma hairs: A dermatoscopic marker for tinea capitis A rapid diagnostic method, J Am Acad Dermatol.2008 Nov;59(5 Suppl):S77-9.
  2. Rook’s Textbook of Dermatology 8th, chapter36: Mycology
  3. Isa IR et al. Dermoscopy in tinea capitis: a prospective study on 43 patients (Med Cutan Iber Lat Am 2014; 42 (1-3): 18-22)
  4. Analysis of trichoscopic signs observed in 24 patients presenting tinea capitis: Hypotheses based on physiopathology and proposed new classification, Ann Dermatol Venereol.2017 Aug – Sep;144(8-9):490-496.
  5. Tinea Capitis in Children and Trichoscopic Criteria, Int J Trichology. 2017 Apr-Jun; 9(2): 47–49.
  6. Dermoscopy for discriminating between Trichophyton and Microsporum infections in tinea capitis. J Eur Acad Dermatol Venereol.2018 Jun;32(6):e234-e235.

Bài viết: BSNT Nguyễn Thị Mai

Đăng bài: phòng CTXH