Chia sẻ cùng đồng nghiệpChuyên môn

Bệnh sắc tố Riehl (Riehl’s Melanosis)

1. Giới thiệu

Bệnh sắc tố Riehl (Riehl Melanosis) được mô tả lần đầu tiên bởi Riehl năm 1917, đặc trưng bởi tăng sắc tố vùng mặt, nổi bật nhất ở trán và gò má, có thể kèm theo vùng thái dương. Vào thời điểm đó Riehl cho rằng bệnh gây ra bởi một số loại thức ăn, chủ yếu chứa flour chất lượng thấp trong Thế chiến I. Riehl nhận thấy bệnh xuất hiện ở cả 2 giới, vùng da bệnh có biểu hiện thô ráp, hơi dày nhẹ và bong vảy ít không có đỏ hay teo da. Sắc tố lan toả và đồng nhất nhưng không có ranh giới rõ ràng. Kể từ đó, bệnh đã được mô tả và bổ sung bởi nhiều tác giả khác nhau.

2. Cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân gây bệnh ngoại sinh hay nội sinh vẫn còn chưa rõ ràng

Một số tác giả cho rằng bệnh sắc tố Riehl cũng đồng nghĩa với viêm da tiếp xúc tăng sắc tố ở mặt. Nguyên nhân phổ biến nhất là các chất hoá học trong mỹ phẩm gây nhạy cảm.Ngoài ra tia UV cũng đóng vai trò quan trọng do vị trí tăng sắc tố thường ở vị trí nhạy cảm ánh sáng, bên cạnh đó, một số chất hoá học cũng là chất gây nhạy cảm ánh sáng.

2.1. Ngoại sinh

– Nguyên nhân thường gồm các chất:

Thuốc nhuộm aniline

Chất màu đỏ hay vàng

Chất màu chromium hydroxid

Chất diệt khuẩn carbanilide (gây nhạy cảm ánh sáng)

Acid ricinoleid

Chất nhuộm tóc

Henna

– Các dị nguyên hương liệu thường gặp: Dầu Geraniol, Dầu chanh, Hydroxycitronellal, Dầu lavender

– Các chất liên quan đến nghề nghiệp: Than đá, Dầu khoáng, Chromate

– Ngoài ra một số trường hợp liên quan đến các yếu tố nội sinh cũng đã được mô tả như do dinh dưỡng (đề xuất bởi Riehl: các chất độc trong cơ thể, các rối loạn tiêu hoá) hay thậm chí Phát ban dạng Riehl cũng đã được mô tả ở một bệnh nhân nữ người Nhật Bản bị Hội chứng Sjogren có kháng thể anti-SSA dương tính.

3. Lâm sàng

– Tăng sắc tố dạng đám hoặc lan toả, bề mặt bong vảy nhẹ.

– Dát tăng sắc tố vệ tinh quanh nang lông

– Tại trung tâm vùng sắc tố có thể quan sát thấy sắc tố dạng mạng lưới (giả mạng lưới sắc tố).

Màu sắc thay đổi: tuỳ vào mức độ nặng của bệnh, type da và yếu tố căn nguyên: đen, tím, xanh đen, nâu nhạt, nâu xám.

Vị trí:tổn thương thường ở trán, gò má hoặc thái dương. Ngoài ra có thể lan tới vùng tai và cổ, mờ dần đến ngực, ở đó biểu hiện chỉ là dát tăng sắc tố kín đáo quanh nang lông. Một số vùng khác như nách, cánh tay, cẳng tay, dưới vú, quanh rốn cũng có biểu hiện tương tự nhưng màu sắc nhạt hơn so với mặt. Nếu dị nguyên là chất nhạy cảm ánh sáng thì tổn thương thường ở vùng da hở.

Một số bệnh nhân có đỏ da, phù nề và ngứa trước khi xuất hiện sắc tố. Giai đoạn viêm này gợi ý khởi phát là viêm da tiếp xúc do các dị nguyên tiếp xúc trực tiếp với da.

Hình 1. (a) Bệnh nhân nữ tổn thương Riehl 1 năm (b) Dermoscopy: bong vảy nhẹ, giãn mạch, giả mạng lưới sắc tố (Nguồn: Internet)

Hình 2. (a) Bệnh nhân nam 42 tuổi tổn thương sắc tố 3 năm. (b) Dermoscopy vòng sáng quanh nang lông, giả mạng lưới sắc tố, chấm/hạt xám và giãn mạch. (Nguồn: Internet)

4. Cận lâm sàng

– Dermoscopy: giả mạng lưới, chấm hoặc hạt xám, giãn mạch máu.

– Test áp hoặc phototest với các sản phẩm nghi ngờ.

– Mô bệnh học: thực hiện nếu biểu hiện lâm sàng không điển hình. Kết quả thường là Interface Dermatitis.

+ Tổn thương sớm: thoái hoá lỏng lớp đáy, xâm nhập viêm quanh mạch hoặc dạng dải các lympho bào mô bào ở trung bì. Sắc tố lan toả ở trung bì.

+ Ở giai đoạn sau có sự xuất hiện của các đại thực bào sắc tố.

– Miễn dịch huỳnh quang trực tiếp thường âm tính.

5. Chẩn đoán phân biệt

– Rám má

– Bớt Ota, Hori

– Ochronosis ngoại sinh

– Tăng sắc tố sau viêm

– Viêm da tiếp xúc dị ứng, kích ứng

6. Điều trị

Không có điều trị chuẩn. Có nhiều phương pháp đã được đề xuất với kết quả khác nhau bao gồm:

– Thuốc bôi: hydroquinone, corticosteroid bôi, retinoid, vitamin C, azelaic có hoặc không kèm theo lột da bằng hoá chất từ nhẹ đến trung bình

– Các liệu pháp ánh sáng như IPL hoặc Q-Switched Nd:YAG laser

– Ngoài ra cần phải giáo dục bệnh nhân:

Lại bỏ nguyên nhân nghi ngờ.

Chống nắng kỹ.

Có thể dùng trang điểm che phủ.

Tài liệu tham khảo

  1. Daadaa N. and Ben Tanfous A. (2020). Riehl Melanosis. StatPearls. StatPearls Publishing, Treasure Island (FL).
  2. Kumarasinghe S.P.W., Pandya A., Chandran V., et al. (2019). A global consensus statement on ashy dermatosis, erythema dyschromicum perstans, lichen planus pigmentosus, idiopathic eruptive macular pigmentation, and Riehl’s melanosis. Int J Dermatol, 58(3), 263–272.
  3. Four views of Riehl’s melanosis: clinical appearance, dermoscopy, confocal microscopy and histopathology – PubMed. <https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/24010902/>, accessed: 01/03/2021.
  4. rorsman H. (1982). Riehl’s melanosis. Int J Dermatol, 21(2), 75–78.

Bài viết: BSNT Thái Thị Diệu Vân

Đăng bài: Phòng CTXH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *